QĐND - Nhà văn quân đội Hải Hồ, tên thật là Lê Ngọc Lưu, sinh ngày 5-6-1927 tại xã Bắc Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, mất ngày 8-12-2001 tại Hà Nội. Mười chín tuổi ông nhập ngũ và bắt đầu cuộc đời làm báo, viết văn. Ở Đại đoàn 304 những năm kháng chiến chống thực dân Pháp gian khổ và anh dũng, cũng như bạn đọc khắp chiến trường Bắc - Trung Bộ không mấy người không biết ông, một nhà báo trung đ
QĐND - Nhà văn quân đội Hải Hồ, tên thật là Lê Ngọc Lưu, sinh ngày 5-6-1927 tại xã Bắc Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, mất ngày 8-12-2001 tại Hà Nội. Mười chín tuổi ông nhập ngũ và bắt đầu cuộc đời làm báo, viết văn. Ở Đại đoàn 304 những năm kháng chiến chống thực dân Pháp gian khổ và anh dũng, cũng như bạn đọc khắp chiến trường Bắc - Trung Bộ không mấy người không biết ông, một nhà báo trung đoàn đi nhiều, viết khỏe, tính tình vui nhộn, hóm hỉnh, trẻ trung có cái bút danh thật lạ: Hải Hồ. Tên tuổi ông xuất hiện rất đều trên các báo xuất bản tại mặt trận, tại chiến khu lúc đó như tờ Đống Đa, Cự Nẫm, Chiến sĩ (của Quân khu 4), tờ Cứu quốc (của Quân khu 3). Truyện ngắn Con gà mái ri đăng trên tờ Thép mới, cơ quan của Hội Văn nghệ Liên khu 4 được ông viết lúc mới 19 tuổi. Một năm sau, truyện ngắn Ông cả Nhắn của ông được giải thưởng của Hội Văn nghệ Khu 4. Tiếp liền đó, cuốn sách Làng đi dân công của ông được xuất bản.
Những năm tháng kháng chiến chống thực dân Pháp là những năm trẻ trung, trong sáng và đẹp đẽ nhất trong cuộc đời ông. Ngoài việc hành quân, chiến đấu cùng bộ đội, làm báo viết văn, Hải Hồ còn tham gia viết kịch bản, đạo diễn sân khấu. Ông từng làm Phó đoàn văn công của Sư đoàn 304.
Kháng chiến thành công, trở về Thủ đô, ông được triệu tập đi dự trại viết toàn quân lần thứ nhất. Sau đó được điều về Tạp chí Văn nghệ Quân đội tham gia Ban biên tập đầu tiên. Thoạt đầu, ông giữ chân biên tập văn xuôi rồi làm Thư ký tòa soạn. Ông có mặt liên tục tại tạp chí kể từ khi thành lập (1957) cho đến ngày nghỉ hưu (1990) với quân hàm đại tá. Cùng thời gian ông về Tạp chí Văn nghệ Quân đội cũng là lúc ông được kết nạp là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Ông thuộc lứa hội viên sáng lập của hội.
Văn nghiệp của ông tuy không thực sự đồ sộ, không thực sự sáng chói nhưng đó là một sự nghiệp phong phú và đa dạng. Ông là người làm báo nhiệt tình và lắm sáng kiến. Ông là nhà văn quân đội đã viết nhiều tác phẩm về đề tài chiến tranh bao gồm đủ các thể loại: Tiểu thuyết, bút ký, truyện ngắn, thơ. Ông còn là một kịch tác gia, một nhà quản lý sân khấu. Nói tới sân khấu, điện ảnh quân đội không thể không nhắc đến ông với những vở kịch như: Nhiệm vụ chúng con (1964), Những người đột phá (1961), Câu chuyện đầu xuân (1963)... hay bộ phim Người chiến sĩ trẻ (1965) viết về Cù Chính Lan - người anh hùng đánh xe tăng trên đường số 6... Và nhắc tới Hải Hồ cũng không thể không nhắc tới những sáng tác độc đáo của ông viết cho các em nhỏ. Ông có cả chục tác phẩm viết cho thiếu nhi, trong đó phải kể tới những tác phẩm như: Chú bé sợ toán (1964), Chú gà trống choai (1969), Bí mật đến Giao thừa (1984), Bóng út xinh xinh (1986)… Những tác phẩm của Hải Hồ viết cho các em đã cùng với những tác phẩm khác của các nhà văn áo lính như: Tướng Lâm Kỳ Đạt (Hoàng Văn Bổn), Đội du kích thiếu niên Đình Bảng (Xuân Sách), Tuổi thơ im lặng (Duy Khán), Tuổi thơ dữ dội (Phùng Quán), Một giọt nắng nhạt (Nguyễn Khải), Từ góc sân nhà em (Trần Đăng Khoa), Đảo đá kỳ lạ (Nguyễn Minh Châu), Miếu thần trung (Chu Phác), Thưa thầy (Hữu Thỉnh), Người quản tượng và con voi chiến sĩ (Xuân Thiều), Mèo đi câu (Vương Trọng), Chào đại úy (Anh Ngọc)… và mới đây là Cha con viết về tuổi trẻ Bác Hồ nổi tiếng của Hồ Phương, đã làm nên một mảng sách sáng đẹp bên cạnh mảng sách sáng đẹp và đồ sộ viết về tuổi trẻ của các nhà văn quân đội.
Đóng góp của Hải Hồ trong lĩnh vực báo chí, văn học nghệ thuật là rất đáng trân trọng. Ông không chỉ là một nhà văn thuộc lớp đàn anh trong đội ngũ các nhà văn quân đội mà ông còn là một người anh thật sự của các cây bút trẻ áo lính một thời. Nhớ lại những ngày đi tuyến lửa Khu 4, vượt Trường Sơn, nhớ về những năm tháng bao cấp khó khăn, nhớ tới những ngày sơ tán trên đất Hưởng Ngải (Sơn Tây)... anh em không thể không nhớ tới ông. Ông như người anh cả, như người chị dâu thảo hiền, việc gì cũng xăm xắn vào, cụ thể đến chi ly. Bây giờ và mai sau, cuộc sống đã và đang khá dần lên, nhưng những nhà văn ở phố nhà binh chẳng thể nào quên những năm tháng thiếu thốn, gian khổ ấy. Sẽ chẳng bao giờ quên hình ảnh ông, một nhà văn, một sĩ quan lúc thì nghiêm ngắn, cẩn trọng trên cái ghế Thư ký tòa soạn, lúc lại trực tiếp ngồi cân đo từng cân đường, lạng thịt nhu yếu phẩm chia cho anh em.
KIẾN VĂN
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận