QĐND - Ngày 9-10-2008, Viện Hàn lâm Thụy Điển công bố: Nhà văn Pháp Jean-Marie Gustave Le Clézio đoạt giải thưởng Nobel văn chương 2008, kèm với lời tuyên dương “tác giả của những chuyến khởi hành mới, của sự đoạn tuyệt, phiêu lưu đầy thơ mộng và đam mê khoái cảm, thám hiểm một thế giới con người ở mé bên kia và bên dưới thế lực văn minh đang ngự trị hiện tại”...
QĐND - Ngày 9-10-2008, Viện Hàn lâm Thụy Điển công bố: Nhà văn Pháp Jean-Marie Gustave Le Clézio đoạt giải thưởng Nobel văn chương 2008, kèm với lời tuyên dương “tác giả của những chuyến khởi hành mới, của sự đoạn tuyệt, phiêu lưu đầy thơ mộng và đam mê khoái cảm, thám hiểm một thế giới con người ở mé bên kia và bên dưới thế lực văn minh đang ngự trị hiện tại”. Không cần đợi đến giải thưởng Nobel tên tuổi J.M.G Le Clézio mới được biết đến, năm 1994, trong cuộc thăm dò của Tạp chí Lire (Đọc), J.M.G Le Clézio được độc giả Pháp xem là nhà văn Pháp số một còn sống. Bên ngoài nước Pháp, J.M.G Le Clézio có biệt danh là “nhà văn du mục” vì ông sống rất nhiều nơi và viết về nhiều nền văn hóa khác nhau.
J.M.G Le Clézio sinh ngày 13-4-1940 tại TP Nice (Pháp). Về chủng tộc, J.M.G Le Clézio có một nửa dòng máu Anh của người cha; ông cũng thông thạo tiếng Anh nhưng trọn đời ông viết bằng tiếng Pháp bởi “ngôn ngữ Pháp là quê hương duy nhất của tôi, là nơi duy nhất tôi sống” - ông tâm sự. J.M.G Le Clézio là người sinh ra để làm nhà văn vì ông bắt đầu viết liên tục từ năm lên 7 tuổi cho đến nay. Nhưng ông chỉ công bố tác phẩm đầu tay “Le procès-verbal” (Biên bản) ở tuổi 23 và đoạt ngay giải Renaudot uy tín. Các tác phẩm thời kỳ đầu sáng tác của ông mang tinh thần phản kháng mặt trái của nền văn minh công nghiệp với lối viết tìm tòi thể nghiệm hình thức không dễ đọc, gần gũi với phong trào “Tiểu thuyết mới”. Đến cuối thập niên 1970, J.M.G Le Clézio làm việc tại Mê-hi-cô và đam mê nền văn hóa thổ dân bản địa. Kinh nghiệm sống tại đây đã làm thay đổi cách nhìn của ông với thế giới. J.M.G Le Clézio khởi đầu một sự thay đổi trong cách viết, xuất bản nhiều cuốn sách bớt đi phức tạp trong hình thức; tập trung vào đề tài về tuổi thơ, du hành, những tộc người thiểu số…, với lối viết ghi lại sự rung động nhỏ nhất, được định danh lạ lùng là “lối viết địa chấn học”.
Ở Việt Nam, J.M.G Le Clézio được biết đến từ những năm 1960 và dần dà một số tác phẩm trong tổng số hơn 60 tác phẩm của ông đã được dịch là: Các tập truyện ngắn “Vòng xoáy” (Nguyễn Văn Qua và Lộc Phương Thủy dịch, NXB Văn học, 1997), “Người chưa bao giờ thấy biển” (Đặng Vương Hạnh dịch, NXB Hội Nhà văn, 2000), “Những nẻo đường đời và những bản tình ca khác” (Hồ Thanh Vân dịch, NXB Hội Nhà văn, 2010); hai tiểu thuyết là “Sa mạc” (Huỳnh Phan Anh dịch, NXB Hội Nhà văn, 1997) và “Điệp khúc cơn đói” (Bằng Quang dịch, NXB Phụ nữ, 2012).
Trong sự nghiệp của J.M.G Le Clézio, tiểu thuyết “Sa mạc” (1980) được giới phê bình đánh giá cao, không chỉ vì cuốn tiểu thuyết này đã đoạt Giải thưởng lớn Paul Morand của Viện Hàn lâm Pháp, mà “Sa mạc” tập trung những tinh hoa trong chặng đường sáng tạo thứ hai của J.M.G Le Clézio.
Để tập trung vào các chủ đề sự hoài nhớ cố hương, huyền thoại đối diện với nền văn minh…, J.M.G Le Clézio đã viết hai câu chuyện không có mối liên hệ nhân quả, song hành với nhau tạo ra một kết cấu đơn giản cho “Sa mạc”. Câu chuyện thứ nhất nói về cậu bé Nour chứng kiến sự tan rã mà bộ tộc sống trên sa mạc khi đối diện với sự xâm lăng của người phương Tây từ năm 1910 đến năm 1912. Dù cho, người tù trưởng của dân du mục là Ma el Ainine nhiều phép thuật chữa lành cho thương binh nhưng cũng không thể cứu vãn sự diệt vong của bộ lạc. Câu chuyện thứ hai, lấy bối cảnh Chiến tranh thế giới thứ hai, kể về thiếu nữ Lalla có gốc gác với vị tù trưởng huyền thoại cư dân sa mạc là người Đàn Ông Xanh. Khi cô trưởng thành cô lưu vong đến Pháp và trở thành người mẫu ảnh-một giấc mơ của những người trẻ tuổi ở chốn văn minh. Nhưng rồi cô từ bỏ tất cả để trở về với sa mạc đầy những câu chuyện huyền thoại với chàng mục đồng Hartari-hình ảnh người chiến binh sa mạc niềm tin tâm linh mãnh liệt.
Yếu tố nghệ thuật đáng chú ý trong “Sa mạc” nằm ở tiết tấu chậm, ngôn ngữ giàu chất thơ, đòi hỏi một sự viết kiên nhẫn của nhà văn như đoạn văn hay nhất trong tiểu thuyết là cảnh Lalla tựa vào gốc cây trên bờ biển quê hương để sinh con. “Sa mạc” còn thể hiện tài năng của J.M.G Le Clézio ở việc xóa nhòa các ranh giới giữa hiện thực và huyền ảo; dẫn dắt người đọc vào sa mạc hoang vu như đi vào trong một giấc mơ không khác gì một tác phẩm của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ La-tinh. Chỉ sau khi kết thúc dòng cuối, người đọc mới như thoát khỏi giấc mơ kéo dài liên quan đến số phận của con người gắn với một nền văn minh bị lãng quên.
Về cơ bản, lối viết trong “Sa mạc” thật khó để xếp thuộc trường phái nào vì trong đó có huyền thoại mơ hồ, nhưng có khi thủ pháp miêu tả cực thực cũng được sử dụng. J.M.G Le Clézio có lần lý giải về sự khó xếp loại của các tiểu thuyết của ông: “Tôi nghĩ rằng đặc tính chủ yếu của tiểu thuyết chính là cái không thể xếp loại được, nói cách khác, đó là một thể loại đa dạng bao gồm một phần là sự lai ghép, một sự hỗn nhập của những ý tưởng mà, rốt cuộc, đó chính là sự phản ảnh của thế giới đa cực của chúng ta”. Vậy là, nên hiểu, “Sa mạc” là một cuốn tiểu thuyết phiêu lưu vào không gian và thời gian khác nhau, thực và ảo, lịch sử và hiện tại; và cả một sự phiêu lưu về cái viết của tác giả và sự tiếp nhận của người đọc.
TRẦN HOÀNG HOÀNG
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận