Đường về quê ngoại men theo một nhánh của dòng sông Nhuệ. Vào hạ, sen bung nở muôn cánh hồng trong nắng. Hương sen theo gió lan xa ùa về ngôi làng nhỏ Nghiêm Xá (xã Nghiêm Xuyên, huyện Thường Tín, TP Hà Nội).
Quê ngoại tôi nằm giữa bát ngát xanh lúa đồng. Chẳng thế mà hương lúa, hương sen cứ vấn vít cả đất trời. Về quê giữa những ngày hè nắng lửa mà lòng bỗng dịu lại.
Ở ngã ba dẫn vào làng, có một cây bồ đề xanh um tỏa bóng. Quanh năm cây lá xào xạc như hát lời ru. Cứ ngồi dưới gốc cây mà hít hà hương đồng gió nội, mà thưởng thức cảm giác mơn man, dịu nhẹ của đất trời. Bên cội bồ đề là Nghĩa trang Liệt sĩ xã Nghiêm Xuyên. Dưới đài tưởng niệm ghi công có bức tượng chú bộ đội cầm súng, vai quàng tấm dù như khoác chiến bào. Hai bên, những hàng mộ chí đổ bóng nghiêng nghiêng dưới nắng chiều. Đồng đội sau cuộc trường chinh về đây cùng tập hợp. Các anh là những người cùng thôn, cùng xã ra đi nguyện giữ lời thề quyết chiến, quyết thắng. Nhưng ngày trở về quê mẹ, tất cả đều lặng im dưới mộ, để lại niềm xót thương vô hạn cho đồng đội, người thân.

Ảnh minh họa: Báo Biên phòng.
Bà ngoại tôi là Nguyễn Thị Vải, hai lần tiễn con đi cũng không có ngày gặp lại. Hai bác tôi là Nguyễn Văn Bình và Nguyễn Văn Minh đã hy sinh trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam. Nước mắt bà đã khô cạn vì nhớ thương. Ngày còn bé, tôi được nghe bà kể chuyện về chú bộ đội từ biệt quê hương lên đường chiến đấu mang theo lời hẹn trở về sẽ cưới một nàng dâu, dựng lại căn nhà, vỡ thửa đất hoang. Nhưng người chiến sĩ cứ đi mãi, đi mãi mang theo lời hẹn ước dở dang về cuối chân trời, bồng bềnh nhẹ tựa áng mây. Những khi ấy, bà lại ngước lên tấm bằng Tổ quốc ghi công, mắt nhòe đi, tóc bạc rung rung. Lời kể rì rầm nhưng chẳng phải chuyện cổ tích. Tâm hồn non nớt của tôi đâu thể hiểu hết những quặn thắt trong lòng bà.
Có những đêm, bà ngồi ở gian giữa dưới ánh đèn dầu mờ nhìn di ảnh liệt sĩ, dáng ngồi bất động như hóa đá. Tuổi già như tơ giăng trước bão, bà còn một tâm nguyện mỏi mòn, ấy là việc đưa hai con về quê nhà. Bà nhờ họ hàng cùng đồng đội của con lặn lội vào trong Tây Ninh tìm hài cốt liệt sĩ. Qua bao lần dò kiếm thông tin, đi lại vất vả, cuối cùng hài cốt hai bác tôi cũng được đưa về an táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ xã Nghiêm Xuyên. Bàn tay mẹ già lần trên bọc vải đỏ. Xót xa quá! Ngày đi mong con chân cứng đá mềm, đi tươi về tốt thì giờ đây chỉ có vỏn vẹn nắm xương hòa đất. Bà cứ vin mộ khắc chữ đỏ thẫm khóc nấc, nghẹn ngào.
Khi hai bác đã yên nghỉ, tôi thấy bà thường lần dò ra nghĩa trang liệt sĩ. Vào dịp 27-7, bà cẩn thận sắm sửa hương hoa đặt trên mộ phần. Lần nào bà cũng chọn mấy bông mẫu đơn cắm vào chiếc lọ gốm. Loài hoa đỏ thắm với muôn ngàn cánh nhỏ li ti như tấm lòng của từ mẫu luôn nhớ đến con. Những khi ấy, tôi thường đi bên bà, nghe lời rì rầm kể chuyện, mà chuyện người già thì chẳng bao giờ hết. Trời chiều nhạt nhòa nhớ thương. Lời mẹ già như khúc hát ru những linh hồn bất tử quây quần nơi nghĩa trang này.
Vào một ngày đầu thu năm 2005, tôi chuẩn bị lên đường nhập ngũ, bà căn dặn: “Con đi chân cứng đá mềm, gắng bằng anh em, đồng chí!”. Rồi bà dẫn tôi ra nghĩa trang, thắp hương khấn cầu. Khi ấy, tôi cảm thấy linh thiêng, xúc động lắm! Cứ lặng đi chẳng thể cất lời. Tết đầu tôi xa nhà, mẹ tủi thân ngồi khóc dưới bếp. Bà bảo: “Con đi rồi lại về có gì mà khóc. Giờ đâu có như xưa, đau cắt từng khúc ruột!”.
Năm 2014, bà ngoại tôi vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Ngày đón nhận, bà lặng lẽ ra nghĩa trang. Khói hương ngan ngát, lá bồ đề xao xác rơi, bóng ngoại lẫn vào giữa những hàng mộ trắng, mái tóc phơ phơ. Rồi chỉ một năm sau, bà tôi theo gió theo mây phiêu diêu về trời. Nghĩa trang quê nhà không còn in bước chân của bà ngoại. Mỗi dịp về thăm quê, tôi thắp nén hương thơm trước di ảnh bà, nguyện cầu trên cao xanh, bà sẽ gặp lại các con cho thỏa nỗi nhớ thương.
VŨ DUY
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận