Không hiểu xuất phát từ đâu và từ khi nào, nơi tâm lí chúng ta hình thành thông lệ rằng chỉ gọi là nhà thơ, nhà văn khi người sáng tác là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Còn lại thì không. Buồn cười không kém là có sự phân cấp nhà thơ trung ương/địa phương...
Không hiểu xuất phát từ đâu và từ khi nào, nơi tâm lí chúng ta hình thành thông lệ rằng chỉ gọi là nhà thơ, nhà văn khi người sáng tác là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Còn lại thì không. Buồn cười không kém là có sự phân cấp nhà thơ trung ương/địa phương. Rồi khi nhà thơ trung ương về địa phương khoái đưa những nhận định với giọng điệu trên ngó xuống đầy kẻ cả. Khen một ít, chê một ít. Và cuối cùng là: có nhiều cố gắng.
Rất là “khệnh khạng lố bịch nhà ma” (từ dùng của Bùi Giáng).
Tự do sáng tạo của nghệ sĩ và trách nhiệm công dân, cá nhân và cộng đồng, chất dân tộc và tính hiện đại, trì nặng mặt đất và phiêu lãng bầu trời… Các phạm trù đối lập song hành tồn tại trong tâm hồn kẻ sáng tạo. Anh luôn phải chịu sự ma sát của chúng: đau đớn, chia xé, vụn vỡ… Từ đó, anh dễ bị đẩy vào mê hồn trận của định kiến, lệch lạc nguy hiểm. Hoặc anh sa lầy trong nỗi ngây thơ, ngô nghê, bản năng, cảm tính… hoặc anh hỏng chân trong trừu tượng vô lối, hũ nút, bí hiểm, hình thức, hậu hiện đại học đòi… Cho đến khi anh tiêu hóa chúng, thăng hoa chúng để làm thành phong cách, giọng điệu của riêng anh.
Đừng nhầm mãi khư khư ôm lục bát. Đường luật, tám chữ là giữ được truyền thống. Xuân Diệu đã chẳng bị chê lai Tây là gì? Nhưng chính Xuân Diệu lại phản bác lối thơ không vần của Nguyễn Đình Thi không phải thơ. Chỉ qua 20 năm của thời gian! Làm như cứ ở lại với vần vè êm tai là dân tộc. Khi chúng ta lặn thật sâu vào nền văn hóa dân tộc, yêu và hiểu biết tinh tế ngôn ngữ dân tộc, luôn mang tâm cảm dân tộc thì dù bất kỳ chúng ta sống ở đâu, sáng tác bằng thể thơ nào, viết về đề tài gì, hồn dân tộc, hơi thở cuộc sống vẫn cứ nóng hổi trong mỗi trang viết của chúng ta. Chứ không cứ đậm đà bản sắc dân tộc đầy mơ hồ để tự vuốt ve một cách đáng buồn.
Mặc cảm sắc tộc, tỉnh lẻ, chưa là hội viên Hội là thừa.
Quyết định sự lớn/bé của nghệ thuật là ở tài năng và sự dấn thân hết mình cho nghệ thuật. Nó lệ thuộc rất ít hoặc không lệ thuộc gì cả vào các phạm trù ngoài rìa. Hãy nhìn sang Cửa Việt của Quảng Trị. Và thử điểm danh đội ngũ thơ của đất nghèo Quảng Ngãi! Đứng vững nơi mảnh đất nhìn mình đứng, thu phối mọi tinh khí của trời đất nơi mình đang sống, vận dụng tất cả nguồn nội lực tiềm ẩn để sáng tạo. Và chỉ sáng tạo.
Bao giờ vượt qua được mặc cảm bé nhỏ, chúng ta mới có thể lớn. Biết đâu chính không khí tỉnh lẻ tách biệt, bản sắc dân tộc thiểu số của Ninh Thuận lại cống hiến cho nền thơ Việt Nam tương lai một giọng mới lạ, độc đáo. Thành bản sắc không thể lẫn của Ninh Thuận. Từ đó, thu hút bạn đọc cả nước đến với thơ Ninh Thuận. Ai biết được!?
Khi Trường thơ loạn manh nha ở đất Bình Định thời tiền chiến, có ai dám nghĩ rằng nửa thế kỷ sau chính phong trào thơ ở đất nghèo này đã khẳng định vị trí cao vượt của mình trong nền thơ Việt Nam. Trong sáng tạo, chẳng có ý tưởng liều lĩnh nào tai hại cả! Văn nghệ Ninh Thuận-với các thành phố lớn, ta cứ tình nguyện làm đàn em. Với “trung ương” ta càng nép mình khiêm tốn hơn nữa! Tại sao chúng ta không có quyền tham vọng?
Cuộc sống rậm rạp bộn bề. Người viết phải lăn xả lo toan cho cuộc sống. Chúng ta tạm dẹp văn chương chữ nghĩa sang một bên để dự phần vào cuộc chiến sinh tồn. Quên văn chương đi mà lo cho sự ấm êm của thân xác. Cho đến khi cuộc sống vứt ta vào xó cùng của cô đơn kinh khiếp hơn, sâu thẳm hơn; ngồi một mình trong bóng tối mặc cho cô đơn gặm nhấm, chúng ta chợt nhớ mình như bỏ quên một cái gì đó lạ mà quen, xa xôi mà rất gần gũi. Để từ đấy hồn ta bỗng bùng vỡ một cuộc nổ kinh hoàng, lay động tận sâu thẳm tiềm thức ta. Và như không tự ý thức, trên bờ môi ta chợt vỡ ra một tiếng nói giản đơn nhưng quyết liệt: tôi phải viết.
Chỉ lúc đó thôi niềm hy vọng của chúng ta-cùng với sự nâng đỡ tinh thần của bạn văn thành, và dĩ nhiên cả sự giúp đỡ của Hội sẽ được đốt cháy trở lại, chói sáng hơn, vạm vỡ hơn.
MÃ PÍ LÈNG
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận