“Ai về làng võ mà coi/Đàn bà cũng biết cầm roi đi quyền”. Từ con trẻ đến người già nhất trong làng đều thuộc làu câu hát vè ấy, như niềm tự hào đã ngấm vào máu thịt của bao lớp thế hệ người dân An Duyên (xã Tô Hiệu, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây) khi đất này được mệnh danh là “Làng võ gậy”...
![]() |
|
Cụ Ngô Văn Thà (bên trái) và cụ Ngô Văn Pháp-2 cụ cao tuổi nhất của Hội gậy-biểu diễn miếng võ “Đấu ngọn tương đồng”. |
“Ai về làng võ mà coi/Đàn bà cũng biết cầm roi đi quyền”. Từ con trẻ đến người già nhất trong làng đều thuộc làu câu hát vè ấy, như niềm tự hào đã ngấm vào máu thịt của bao lớp thế hệ người dân An Duyên (xã Tô Hiệu, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây) khi đất này được mệnh danh là “Làng võ gậy”...
Sải bước trên con đường trải nhựa rợp bóng cờ, không khí xuân ở đất võ như ùa vào lòng người, khiến ai đến đây đều chợt có cảm giác như được trở về chính mảnh đất quê mình. Anh thanh niên vác bó gậy tre tất tưởi chạy, dừng lại, nhoẻn miệng cười khoe với khách: “Ở làng tôi cứ phải qua mồng 7 Hội làng mới hết Tết. Các ngày lễ trong năm, những hộ gia đình “mặt tiền” đều treo cờ Tổ quốc. Năm nay, bà con “phất cờ” từ hôm kỷ niệm thành lập Đảng và để đến Hội làng hôm nay...”.
Với người dân thôn An Duyên (hay còn gọi là Làng Mui) thì Tết Nguyên đán gắn liền với Lễ hội đánh gậy truyền thống. Trải qua bao thế hệ, sự thay da đổi thịt của cuộc sống hiện đại, nhưng Hội gậy truyền thống vẫn luôn là linh hồn, là nét văn hóa đặc trưng nhất của Làng võ gậy. Bà con trong thôn, ai đi làm ăn xa hoặc chuyển sang định cư ở vùng khác, nếu Tết không về được, họ sẽ cố về để có mặt vào ngày Tết Khai hạ (mồng 7 âm lịch). Bởi từ thuở thiếu thời, bất cứ ai lớn lên ở đây cũng được nghe truyền thuyết về nguồn gốc của môn võ gậy, để từ đó họ nâng niu, trân trọng việc sinh tồn của Hội gậy như chính sự tồn tại của mình trên thế gian.
Tìm đến bậc cao niên nhất của Hội võ gậy, tôi được nghe đầy đủ sự tích của môn võ cổ truyền này. Cụ Ngô Văn Thà (88 tuổi) kể: “Từ thời Vua Hùng thứ 18, có một vị tướng mang quân đi đánh giặc ngang qua làng tôi. Thấy đây là mảnh đất địa linh nhân kiệt, ngài bèn chọn làm chốn đóng quân, chiêu mộ binh sĩ để đánh giặc lâu dài. Thuở đó, gươm giáo làng tôi không nhiều. Sẵn những bụi tre lâu năm, vị tướng ấy đã dạy dân dùng gậy tre thay kiếm để luyện võ. Tám mươi trai tráng trong tổng (bây giờ là xã) đã gia nhập đội quân, dưới sự chỉ huy của vị tướng ấy xuất chinh dẹp giặc. Dân quê tôi lập đền thờ những dũng sĩ đó ở chính nơi các ông làm lễ xuất quân và tôn thờ vị hiền tướng là thần hoàng làng. Môn võ gậy của Làng Mui được lưu truyền từ đó. Người làng tôi còn dùng võ gậy để đánh giặc, đuổi cướp, bảo vệ sự bình yên của thôn xóm. Sau này, nhiều thanh niên An Duyên nhập ngũ đã vận dụng sáng tạo môn võ gậy tại các trận đánh giáp lá cà diệt địch trong kháng chiến chống Pháp...”.
Tiếng trống hối hả ngoài đình làng thúc giục “thủ lĩnh gậy” đến chỉ huy. Cụ Thà cười đôn hậu nhìn tôi rồi nói: “Giờ khai mạc sắp đến rồi. Cô đi ra đình làng mà xem Hội. Vui đáo để! Có cả những cô cậu tiểu học, gậy dài quá người nhưng cũng múa dẻo ra trò đấy!”. Ùa vào dòng người tấp nập qua lại, tôi theo chân cụ Thà để được “mục sở thị” môn võ độc đáo này. Quả thực, ngoài người già, thanh niên, còn có những cô cậu ở độ tuổi khăn quàng đỏ đứng xếp hàng chuẩn bị vào biểu diễn.
Mỗi cặp tham gia, trước khi giao đấu đều đứng hàng ngang ở giữa sân đình, một tay dựng gậy thẳng đứng nghiêm trang. Khi trống lệnh vang lên, đấu thủ đá chân hất ngược gốc gậy lên, hai tay cầm gậy nằm ngang, theo tiếng trống điều khiển, cả hai tiến vào cửa đình nâng gậy khấu đầu (bái tổ), rồi chuyển mình múa thuận nghịch một vòng, sau đánh theo từng thế võ. Trong khi hai đấu thủ múa vờn, áp vào đánh, đỡ, gậy đập lên nhau chan chát, rồi lại giãn ra múa lượn, lừa miếng, nhử đòn... thì tiếng hò reo, tiếng trống thúc, tiếng loa động viên, cổ vũ vang dậy cả sân đình.
Em Ngô Thị Hồng Anh (học sinh lớp 6) tâm sự với tôi: “Em tham gia tập võ gậy từ năm ngoái. Tập thường xuyên, em thấy khỏe hơn nhiều. Với lại, con gái càng cần biết võ để tự bảo vệ mình”. Anh Ngô Văn Năng - một trong những thầy dạy võ gậy của làng, bày tỏ: “Cụ Thà tuổi đã cao, những người trẻ chúng tôi phải có trách nhiệm giữ gìn để truyền thống không bị mai một. Rất mừng là lớp trẻ làng tôi say mê tập luyện và có ý thức bảo vệ nét đẹp văn hóa quê mình”. Để có đủ gậy tập, bà con phải chặt tre ba râu vào tháng Giêng năm trước. Chặt xong, gom lá tre đốt hun nóng, giữ độ nóng vừa phải bằng cách tiếp tục ủ vào gio như mía lùi. Khi tre mềm ra, đem cài vào bụi tre khác để uốn cho thẳng. Uốn xong lại đem tre phơi nắng khoảng một tháng mới dùng được. Gậy có nhiều kích cỡ để thuận tiện cho việc tập luyện của mọi lứa tuổi khác nhau”.
Không khí náo nức của ngày Hội khiến thời gian trở nên vô định với người dân làng võ. Dường như tôi cũng bị cuốn theo vòng xoáy đó với tiếng cười giòn tan, tiếng pháo tay không ngớt, cùng ánh mắt thân thiện của người dân quê. Tôi tạm biệt Hội làng trong xốn xang, lưu luyến. Cụ Thà nói vọng theo cùng cái vẫy tay chào tiễn biệt: “Mồng 7 sang năm cháu nhớ rủ thêm bạn bè về xem Hội làng nhé!”.
Bài và ảnh: HỒNG THẠNH
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận