QĐND - Môn sử về bản chất cũng giống như bao môn học khác. Nếu một học sinh không thi khối C thì chẳng cấp thiết phải thuộc sử rành rẽ. Sau sự kiện hàng nghìn điểm không (0) tại kỳ thi đại học vừa qua khiến nhiều người (do quá bức xúc) đã đưa ra vô vàn lý do học sinh phải học sử: Học sử bồi đắp lòng yêu nước hoặc học sử là học làm người…
QĐND - Môn sử về bản chất cũng giống như bao môn học khác. Nếu một học sinh không thi khối C thì chẳng cấp thiết phải thuộc sử rành rẽ. Sau sự kiện hàng nghìn điểm không (0) tại kỳ thi đại học vừa qua khiến nhiều người (do quá bức xúc) đã đưa ra vô vàn lý do học sinh phải học sử: Học sử bồi đắp lòng yêu nước hoặc học sử là học làm người… Những điều trên không phải là không đúng, nhưng có nhiều người cũng có lý khi cho rằng: Không thuộc sử không thể kết luận học sinh sẽ không thành người tử tế trong tương lai, hoặc chỉ cần học môn Văn-với những tác phẩm chứa đựng “chân-thiện-mỹ” cũng đủ bồi “phần hồn” rồi, cần gì phải học sử! Thêm nữa, cũng không thể kết luận nếu thiếu hiểu biết về lịch sử thì lòng yêu nước sẽ “có vấn đề” bởi một nhà kinh doanh giỏi là thực hiện lý tưởng dân giàu nước mạnh, đó cũng là một người yêu nước chân chính.
Vậy nên, muốn để số đông học sinh lại yêu thích môn sử, trước hết cần làm sáng tỏ câu hỏi khởi nguyên: Học sử thì để làm gì? Theo ý kiến cá nhân tôi, học sử có hai lợi ích sát sườn sau: Thứ nhất, học sử là góp phần phát triển khả năng tư duy; thứ nữa, ai càng hiểu biết nhiều về lịch sử sẽ có nhiều bài học lịch sử từ quá khứ để soi vào hiện tại và định hướng cho tương lai.
Để ví dụ cho lợi ích thứ nhất, xin nêu một nghịch lý ở năm thứ nhất đại học của một số chuyên ngành khoa học xã hội và nhân văn, đó là: Nhiều học sinh giỏi tỉnh và quốc gia môn sử thời còn học phổ thông chỉ đạt học lực trung bình.
Nếu tìm hiểu kỹ, mới thấy hiện trạng nói trên nằm trong một mối quan hệ nhân-quả, không phải là chuyện lạ. Những sinh viên từng là học sinh giỏi sử thời phổ thông vốn chỉ quen phương pháp học thụ động: “thầy đọc-trò chép”, học nằm lòng một số “đáp án mẫu” đã không thích ứng với cách học chủ động ở bậc đại học. Ở nhiều trường đại học, các giảng viên chỉ giảng bài theo cách… gạch đầu dòng và đưa ra danh sách các sách cần tham khảo. Đến khi kiểm tra kết thúc môn, giảng viên cho một hoặc hai câu hỏi, sinh viên về nhà làm tiểu luận (dài khoảng 10 trang A4), có thể tham khảo tất cả sách tiếng Việt lẫn sách ngoại văn (miễn là có trích nguồn dẫn).
![]() |
| Di vật quý được tìm thấy trong khu khảo cổ Hoàng thành Thăng Long. Ảnh: Xuân Thêm |
Với cách học này, sinh viên không chỉ phải đọc nhiều tài liệu để lấy ví dụ chứng minh mà còn phải chủ động đưa ra các ý kiến mang tính cá nhân nhằm trả lời các câu hỏi. Những người đứng đầu lớp đại học dĩ nhiên đọc rất nhiều, nhưng đặc biệt hơn phải luôn luôn vận dụng khả năng tư duy của mình. Những sinh viên này đều không bao giờ bằng lòng với một kết luận có sẵn, thay vào đó tìm cách tự đặt các câu hỏi xung quanh các vấn đề đã được “chúng khẩu đồng từ”-biến thành chân lý.
Có thể sau khi ra trường, các tân cử nhân sẽ không gắn bó với việc nghiên cứu sử học do thu nhập eo hẹp, nhưng với khả năng tư duy sắc bén được hình thành từ quá trình học một cách chủ động sẽ giúp họ có khả năng làm việc sáng tạo, độc lập và chịu được áp lực hơn hẳn những cử nhân vẫn chưa dứt khỏi cách học thụ động.
Nếu lợi ích thứ nhất cần phải có một quá trình lâu dài để dần quen, thì lợi ích thứ hai của việc học sử lại có thể đến ngay tức thì. Mỗi một sự kiện lịch sử, thậm chí là giai thoại cũng đều chứa đựng những ý nghĩa nhất định-trở thành những bài học lịch sử. Những bài học lịch sử có thể áp dụng nhằm gợi mở các giải pháp cho một vấn đề ở thực tại. Chẳng hạn, văn học châu Âu một thời gian dài làm công cụ cho Thiên Chúa giáo, nhưng từ thời Phục hưng đã thoát ly tôn giáo, nhờ đó luôn luôn là nơi xuất phát của những cuộc cách mạng văn học. Ở Việt Nam, Nho giáo trở thành quốc giáo từ thế kỷ XV “trói buộc” các tác phẩm văn học phải dùng vào mục đích giáo huấn, trong khi các tác phẩm lớn đều chỉ tuân thủ quy luật của cái đẹp chứ không lấy mục đích giáo dục làm ưu tiên lớn nhất; vì vậy, nhà văn Việt Nam thời hiện đại cần phải “tạm quên” đi mục đích giáo huấn mà nên chú trọng vào kỹ thuật viết văn nếu muốn có tác phẩm lớn. Bản thân "cái đẹp" đã có sẵn tác dụng giáo huấn.
Để học sinh nhận thức được hai lợi ích của môn sử khi và chỉ khi việc dạy, học môn sử phải “thay máu” toàn diện. Trước tiên là sách giáo khoa, về cơ bản, sách giáo khoa hiện nay được biên soạn gọn gàng chỉ đơn thuần nêu sự kiện, còn lại là dành câu hỏi để học sinh tập tư duy quanh các sự kiện lịch sử. Song, vẫn cần nhiều điều cần bàn.
Có sách biên soạn công phu, khoa học chưa phải là tất cả; những giáo viên hiện nay đều quá bám sát sách giáo khoa vì sợ “cháy giáo án” mà chưa chủ động sáng tạo cách dạy hiệu quả. Ví dụ, trang 176 sách Lịch sử lớp 12 đăng ảnh người dân Mỹ biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam, giáo viên có thể kể thêm về “chiến tuyến Mỹ”-những cuộc nổi dậy của những người Mỹ tiến bộ, yêu chuộng hòa bình; về việc cuộc chiến Việt Nam là nguyên nhân làm chia rẽ nước Mỹ chỉ đứng sau Cuộc nội chiến Mỹ (1861-1865). Từ đó, những lời kể ngoài lề này sẽ giúp học sinh có thể hiểu sâu sắc một chân lý: Dân tộc ta chiến đấu vì chính nghĩa để đánh đuổi ngoại xâm, thống nhất đất nước.
Để tình trạng “thảm họa” sử học không tồi tệ hơn, không có cách nào khác là cần đổi mới toàn diện cách dạy và học sử. Thiết nghĩ, một khi sử học được đưa ra làm “mẫu” thành công, những người quản lý lại có “kinh nghiệm lịch sử” để đổi mới nền giáo dục nước nhà.
TRẦN HOÀNG HOÀNG
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận