Lễ hội Lam Kinh 2008 gắn liền với ba kỷ niệm lịch sử: 590 năm Khởi nghĩa Lam Sơn, 580 năm Lê Thái Tổ đăng quang và 575 năm ngày mất của anh hùng dân tộc Lê Lợi-vua Lê Thái Tổ sẽ diễn ra trong ba ngày 21, 22, 23 tháng 8 Mậu Tý (20, 21, 22-9-2008).
![]() |
|
Các diễn viên nhân dân tập duyệt diễn xướng “Dựng cờ khởi nghĩa” tham gia lễ hội Lam Kinh 2008. Ảnh: ĐỖ THẮNG |
Lễ hội Lam Kinh 2008 gắn liền với ba kỷ niệm lịch sử: 590 năm Khởi nghĩa Lam Sơn, 580 năm Lê Thái Tổ đăng quang và 575 năm ngày mất của anh hùng dân tộc Lê Lợi-vua Lê Thái Tổ sẽ diễn ra trong ba ngày 21, 22, 23 tháng 8 Mậu Tý (20, 21, 22-9-2008). Chính quyền và nhân dân Thanh Hóa sẽ thay mặt cả nước tổ chức lễ hội năm nay lớn hơn hẳn mọi năm, hàng chục vạn người từ các địa phương Thanh Hóa và khắp miền đất nước sẽ về dự.
Trong sắc thu Thái bình muôn thuở
Có lẽ phải đến Lam Sơn-Lam Kinh những ngày này mới thấy hết vẻ đẹp của vùng châu thổ sông Mã, sông . Thảm lúa đang ngả vàng mùa tháng Mười trải rộng trên các huyện Thọ Xuân, Hoằng Hóa… minh chứng cho sự trù phú của vùng đồng bằng lớn thứ hai của đất bắc, nơi cùng với Đồng bằng sông Hồng làm nên nền văn minh Đông Sơn-Văn minh sông Hồng, và tiếp đó là văn minh Đại Việt rực rỡ, ngàn năm nối tiếp ngàn năm. Nằm ở nơi tiếp giáp giữa vùng núi phía tây bắc và thảm lúa, biển cả phía đông nam, Lam Sơn-Lam Kinh có thế đất rồng cuộn hổ ngồi, như chiếc ngai lớn trông ra không gian bao la. “Núi Lam Sơn dấy nghĩa. Chốn hoang dã nương mình” là đây. Từ ngày thắng giặc Minh xâm lược, “Mở nền thái bình muôn thuở” (Nguyễn Trãi) cảnh sắc Lam Sơn cũng như mọi miền Tổ quốc đã đổi thay, thịnh vượng. Từ đất tụ nghĩa dấy binh 590 năm trước Lam Sơn-Lam Kinh đã thành đất thiêng, đất căn bản nguồn cội hun đúc khí phách dựng nước, giữ nước cho con cháu muôn đời.
Theo sử sách, sau khi kháng chiến chống quân Minh thắng lợi, Bình định vương Lê Lợi lên ngôi vua (năm 1428), tháng 11 năm 1429 Người về Lam Sơn bái yết tổ tiên, quyết định xây dựng trên quê hương khu sơn lăng an táng tổ tiên và các vị vua, hoàng hậu Nhà Lê đồng thời xây kinh điện để phục vụ việc thiết triều và thờ cúng. Sau khi Lê Thái Tổ qua đời, Vua Lê Nhân Tông cho triển khai xây dựng vào năm 1433, đến năm 1450 thì hoàn thành điện Lam Kinh. Điện Lam Kinh được trùng tu, tôn tạo trong nhiều năm tiếp theo. Sách Lịch triều hiến chương loại chí (Phan Huy Chú) chép: “Điện Lam Kinh đằng sau gối vào núi, trước mặt trông ra sông (Chu), bốn bên non xanh nước biếc, rừng rậm um tùm. Vĩnh Lăng của Lê Thái Tổ, Thiệu Lăng của Lê Thái Tông và lăng các vua Nhà Lê ở đây cả… Điện có ba ngôi liền nhau, kiểu chữ công, mẫu mực theo đúng kiểu các điện miếu ở kinh sư”.
Năm tháng qua đi, Lam Kinh đã trải qua những biến động lịch sử đau lòng. Nhà Mạc tiếm ngôi Nhà Lê cho quân đốt phá phần lớn các điện miếu ở Lam Kinh năm 1531. Năm 1788, những “kiêu binh” nhà Tây Sơn trên đường từ ra Bắc lại đốt phá Lam Kinh một lần nữa. Năm 1805, Nhà Nguyễn cho tháo gỡ ngói, gỗ ở thành Thăng Long cùng với gỗ ở điện Lam Kinh đem về xây đền thờ nhà Lê ở Bố Vệ (nay thuộc thành phố Thanh Hóa). Chiến tranh, thời thế nhiễu nhương, điện miếu cùng các công trình kiến trúc ở Lam Kinh trở nên hoang phế, nhưng trong lòng người dân Lam Sơn và các địa phương Thanh Hóa, Lam Kinh vẫn là nơi đất thiêng, tưởng niệm và tôn thờ một triều đại thịnh trị bậc nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam.
Với những giá trị sâu sắc về lịch sử, văn hoá, điêu khắc… Khu di tích Lam Kinh đã được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đặc biệt quan tâm, được xếp hạng Di tích lịch sử quốc gia đợt đầu tiên. Năm 1960, Nhà nước ta đã cho xây dựng các nhà để che bia tại các lăng. Năm 1994, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt dự án Quy hoạch tổng thể, trùng tu, tôn tạo phục hồi Khu di tích Lam Kinh. Khu di tích đã được khai quật, nghiên cứu khảo cổ học xác định rõ địa điểm, qui mô các công trình kiến trúc xưa. Các công trình cầu Bạch, đường thần đạo, đường nam cầu Bạch, ba trong số 9 tòa thái miếu cùng các lăng tâm, bia, hồ, suối…đã được phục dựng. Thăm Lam Kinh hôm nay, chúng ta không chỉ được chiêm ngưỡng cảnh quan núi sông, đồng ruộng mát mắt mà còn được lễ bái, thăm thú một khu di tích đã nổi hình hài trang nghiêm, bề thế giữa rừng cây xanh tươi.
Cảm nghĩ trước Lam Kinh
Di tích tôn quí bậc nhất của Khu di tích Lam Kinh chính là Bia Vĩnh Lăng. Không phải vì tấm bia có kích thước lớn kỷ lục cao 2,79 mét, rộng 1,94m, dày 0,27m mà bởi đó là di tích nguyên gốc, nội dung trang nghiêm súc tích, giản dị cụ thể mà hào sảng. Chỉ chưa đầy 600 chữ, Nguyễn Trãi đã ghi đầy đủ công tích của Lê Lợi gắn với bản tổng kết lịch sử mười năm khởi nghĩa Lam Sơn giải phóng đất nước, lập nên triều đình hưng thịnh Nhà Lê. Lê Thái Tổ sinh ra, khởi nghiệp lớn vì nước ở Lam Sơn, khởi dựng Lam Kinh và cũng được an táng tại đây. Nguyễn Trãi dâng “Bình Ngô sách” gia nhập nghĩa quân Lam Sơn tại đây, soạn văn bia tôn thờ Lê Lợi để tại đây. Lê Lai quê vùng này, cùng Lê Lợi và 17 hào kiệt dự Hội thề Lũng Nhai, đổi áo cứu Lê Lợi tại Chí Linh, khi mất cũng được Lê Lợi an táng, cho lập đền thờ trên quê ông ngay gần Lam Kinh… Khu di tích Lam Kinh nhìn rộng ra là địa bàn quần tụ tôn thờ anh linh không chỉ các vị vua, hoàng hậu Nhà Lê mà còn cả các công thần khai quốc, những hào kiệt các miền cùng những người dân “bốn phương manh lệ”. Đó là nét chấm phá của bức tranh lớn chiến tranh nhân dân đầu thế kỷ 15. Đó là hình ảnh gắn bó từ thuở “nằm gai nếm mật” đến lúc hưởng thái bình rồi đến thời khắc trở về cõi vĩnh hằng của cả một thế hệ những con người vì nước ở thế kỷ 15.
Đến đất Lam Sơn-Lam Kinh trong dịp những kỷ niệm lớn trùng phùng là được ôn nhớ những trang sử oanh liệt mở nước, dựng nước một thời, ôn nhớ về một triều đại tồn tại lâu dài nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Đứng trước lăng miếu, trước những bệ đá chân cột của những tòa điện, tam quan, có lẽ trong mỗi người đều ít nhiều thức dậy những cảm nghĩ đa chiều, những day dứt về những khúc quanh của lịch sử. Tại sao thảm án Lệ Chi Viên; tại sao những bất công giáng xuống các công thần Nhà Lê sau khi thắng giặc, sau khi vua Lê Thái Tổ băng hà? Những nhiễu loạn, nhũng nhương một thời phải chăng là tất yếu bởi sự tị hiềm, tranh chấp nhỏ nhen, là hạn chế của lịch sử? Nhưng cũng chính những công thần Nhà Lê đã phò tá, giáo dưỡng, thành tạo một vua Lê Thánh Tông hiền minh để lật lại những bản án lịch sử, để thấy lại vai trò của quần thần cùng nhân dân cả nước, để hoạch định luật pháp, chế ban những chính sách tiến bộ, trong đó có chính sách quân điền bảo đảm lợi ích cho người dân, có chính sách giáo dục, tuyển dụng nhân tài gây dựng, thực hiện “mệnh duy tân khắp nước”…
Đến Lam Sơn-Lam Kinh cũng là dịp mọi người cùng tìm hiểu, cùng tự thấy trách nhiệm bảo vệ, tôn tạo, phát huy giá trị di tích. Một thái độ khoa học nhắc nhở chúng ta rất đáng phải cân nhắc thận trọng trong những hoạt động phục dựng các công trình cổ. Nên để nguyên nền các điện Quang Đức, Sùng Hiếu và Diên Khánh hay phục dựng lại? Cảm xúc của người đến thăm trước các phế tích-sự thật, chứng nhân của lịch sử chắc chắn khác hẳn với khi bước lên tòa điện được dựng lại.
Mùa lễ hội Lam Kinh năm nay sẽ thu hút hàng chục vạn người, nhưng còn ngày thường, làm sao để Lam Kinh trở thành điểm du lịch văn hóa-tâm linh hấp dẫn khách quanh năm. Các tua, tuyến nối Hà Nội-Thanh Hóa, Sầm Sơn-Lam Kinh đều đã mở nhưng hiện chưa có nhiều khách. Phải chăng bài toán kết nối Lam Kinh-Thành nhà Hồ-Đền Sòng, Suối cá thần Cẩm Thủy gắn với việc tôn tạo các di tích, cảnh quan, chăm lo lưu trú, hàng lưu niệm… cần được giải bằng sự đầu tư trọng điểm và dứt điểm của Nhà nước cùng phương hướng xã hội hóa mạnh mẽ hơn hẳn thời gian qua.
10 năm nữa sẽ là lễ hội lớn chẵn 600 năm Khởi nghĩa Lam Sơn-đích đến đã rất gần.
MẠNH HÙNG
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận