Thứ Hai, 16/08/2010, 09:55

    Lý Thường Kiệt (1019-1105) – vị danh tướng phá Tống bình Chiêm

    QĐND- Chín năm sau ngày kinh thành Thăng Long được khai sáng, Ngô Tuấn, tên chữ là Thường Kiệt, một hậu duệ của Ngô Quyền, đã chào đời ở làng An Xá, huyện Quảng Đức (nay thuộc quận Long Biên, thành phố Hà Nội)...

    QĐND- Chín năm sau ngày kinh thành Thăng Long được khai sáng, Ngô Tuấn, tên chữ là Thường Kiệt, một hậu duệ của Ngô Quyền, đã chào đời ở làng An Xá, huyện Quảng Đức (nay thuộc quận Long Biên, thành phố Hà Nội).

    Từ nhỏ, Ngô Tuấn nổi tiếng khôi ngô, tuấn tú, thông minh, lanh lợi. Tiếp nối truyền thống gia đình, ông được đào tạo cả về văn và võ. Năm 23 tuổi, Ngô Tuấn được phong làm Hoàng môn chi hậu, theo hầu vua Lý Thái Tông, tiếp đó là vua Lý Thánh Tông, dần thăng đến chức Kiểm hiệu thái bảo, nắm giữ trọng trách trong vương triều Lý. Ông được phép mang họ vua, đổi tên thành Lý Thường Kiệt, trở thành một trụ cột của triều đình Đại Việt.

    Bấy giờ, cả hai miền biên giới của quốc gia Đại Việt đều bị uy hiếp. Trước nguy cơ ngoại xâm cận kề, năm 1069, Lý Thường Kiệt cùng vua Lý Thánh Tông đem quân tiến đánh Champa trước để ổn định biên giới phía Nam. Cuộc “bình Chiêm” thắng lợi, Lý Thường Kiệt lập công lớn, được thăng chức Thái úy, tước Khai quốc công, nắm quyền Tổng chỉ huy quân đội.

    Sau thất bại của âm mưu phối hợp với Champa tấn công Đại Việt, nhà Tống dồn sức biến Ung Châu, cửa biển Khâm Châu, Liêm Châu và các trại ở biên giới Tống-Việt thành những căn cứ quân sự và hậu cần chuẩn bị cho cuộc xâm lược đại quy mô vào nước ta. Để đối phó với âm mưu của đối phương, Lý Thường Kiệt táo bạo đề xuất chủ trương “tiên phát chế nhân”, cho rằng “ngồi yên đợi giặc không bằng đem quân ra trước để chặn mũi nhọn của giặc”. Đây là một tư tưởng “Tiến công để tự vệ” sáng tạo độc đáo bậc nhất đương thời. Được triều đình Đại Việt tán đồng, năm 1075, Lý Thường Kiệt chỉ huy 10 vạn quân chia thành hai đường thủy và bộ tiến sang đất Tống, bất ngờ phá tan các căn cứ Ung Châu, Khâm Châu, Liêm Châu, rồi nhanh chóng rút quân về nước, chuẩn bị kháng chiến.

    Tháng 3 năm 1076, 10 vạn quân viễn chinh của nhà Tống (Trung Quốc) do Quách Quỳ và Triệu Tiết chỉ huy tiến sang xâm lược Đại Việt. Quân dân Đại Việt do Lý Thường Kiệt trực tiếp chỉ huy đã để quân Tống tiến sâu vào lãnh thổ nước ta, rồi tập trung đánh chặn quân địch ở phòng tuyến bờ nam sông Như Nguyệt (sông Cầu), ngay cửa ngõ kinh thành Thăng Long.

    Ít lâu sau, quân Tống không được tiếp viện, dần lâm vào tình cảnh ngày càng khó khăn. Với nhãn quan chính trị sắc bén và lòng nhân ái bao la, mặc dù đang chiếm lợi thế trên chiến trường, Lý Thường Kiệt chủ động đề nghị quân Tống "giảng hòa". Tướng nhà Tống là Quách Quỳ như “chết đuối vớ được cọc”, lập tức chấp nhận giảng hòa, rút quân về nước, kết thúc chiến tranh, khôi phục hòa bình. Cuộc “phá Tống” thắng lợi hoàn toàn. Đây thực sự là một chiến thắng toàn diện, một võ công hiển hách, thể hiện sâu sắc tài thao lược xuất chúng, tầm nhìn và tinh thần nhân văn của Lý Thường Kiệt cùng Vương triều Lý.

    Sau khi kết thúc chiến tranh, với vai trò của một vị quan đầu triều, Lý Thường Kiệt ra sức cùng triều đình và quân dân nhà Lý khắc phục hậu quả, xây dựng Đại Việt trở thành một quốc gia cường thịnh trong khu vực.

    Có thể khẳng định rằng, Lý Thường Kiệt đã có công lao đặc biệt to lớn và để lại dấu ấn đậm nét trong quá trình vạch kế hoạch chiến lược, rồi trực tiếp chỉ huy những trận đánh lừng danh nhất trong lịch sử quân sự Việt Nam thế kỷ XI, đập tan hoàn toàn mưu đồ xâm lược của quân Tống, bảo vệ vững chắc nền độc lập của nước nhà. Ông xứng đáng là danh tướng bậc nhất trong lịch sử Thăng Long – Hà Nội nói riêng, lịch sử dân tộc Việt nói chung.

    Khánh Nguyên

    host

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...