Thứ Sáu, 10/12/2010, 09:29

    ... "Mà cành đào trên giấy chửa phai màu"

    QĐND - Còn nhớ mùa hè năm 1998, nhân dịp nhà văn Phù Thăng – tác giả của những Biển lửa (phim), Phá vây (tiểu thuyết), Con nuôi trung đoàn (truyện ngắn), những tác phẩm nổi tiếng và cũng là cả… “chịu tiếng” một thời – lên lão 70, mấy anh em viết văn trẻ ở “phố nhà binh” cùng nhà văn cao niên Xuân Thiều về làng Cộng Lạc (Tứ Lộc, Hải Dương) mừng thọ ông. Dù đã ở vào lứa tuổi “xưa nay hiếm” nhưng năm

    QĐND - Còn nhớ mùa hè năm 1998, nhân dịp nhà văn Phù Thăng – tác giả của những Biển lửa (phim), Phá vây (tiểu thuyết), Con nuôi trung đoàn (truyện ngắn), những tác phẩm nổi tiếng và cũng là cả… “chịu tiếng” một thời – lên lão 70, mấy anh em viết văn trẻ ở “phố nhà binh” cùng nhà văn cao niên Xuân Thiều về làng Cộng Lạc (Tứ Lộc, Hải Dương) mừng thọ ông. Dù đã ở vào lứa tuổi “xưa nay hiếm” nhưng năm ấy ông vẫn rất nhanh nhẹn. Ông sống cuộc sống “điền viên” nơi quê nhà thật thanh bình. Một nếp nhà đơn sơ, một mảnh vườn; một cái ao nhỏ với cây dừa thân khòng la đà mép nước và mặt ao hoa súng đỏ nở tưng bừng. Trên sân, trước ngõ là tiếng trẻ bi bô… Anh em có ý hỏi về bản thảo cuốn tiểu thuyết Tấn công (tập II của cuốn Phá vây) ông vừa viết xong mà nghe đồn là ông dứt khoát không cho ai đọc. Ông bỏ nó vào một cái vò, nút lá chuối khô đem chôn sâu dưới ba thước đất và thề rằng chỉ để người nào đó đào lên đọc và đưa in khi ông đã ra người thiên cổ (!?). Ông cười. Cái cười móm mém nhưng rất đỗi hiền lành. Ông chỉ cho mọi người xem những tấm bằng “Huy chương vàng”, “Huy chương bạc” thưởng cho các phim Trên tuyến đầu miền Tây Tổ quốc, Tiếng gọi phía trước, Biển lửa… mà ông là tác giả những năm còn công tác ở Điện ảnh Quân đội, ở Xưởng phim truyện Việt Nam treo đầy trên vách và đọc một câu thơ hoài cảm: Mà cành đào trên giấy đã phai rồi…! Tuy vậy, vừa rót rượu cho chúng tôi ông vừa đọc một câu thơ tiếng Pháp đại ý “Rượu rót ra rồi phải uống thôi!”. Ông kể, ông đang hoàn thành một tập thơ Pháp ngữ có tiêu đề Xi-lăng-xi-ơ nghĩa là Im lặng… Ông hứa rằng, khi tập thơ hoàn thành, ông sẽ gửi lên Hà Nội để bạn bè xem. Chờ mãi, mong mãi. Rốt cuộc là chỉ nhận được một lá thư (không, một bài thơ thì đúng hơn) ông gửi cho, mà mới đọc đầu đề đã thấy lạ. Chỉ một dấu chấm than (!) và một dấu chấm hỏi (?) to sụ! Bài thơ có câu:

                        Thơ ta chữ nghĩa mỏi mòn

               Mượn thơ tiếng Pháp “nguyện hồn người điên”

    No image available

    (Chữ “nguyện hồn người điên” có dòng chú: pour un fou glas). Nhận được bài thơ đã toan trách ông là sao lỗi hẹn thì áp Tết năm ấy, ông có việc lên Hà Nội, chắc lên vì cuốn Lịch sử trung đoàn 42-đơn vị mà ông đã đi cùng suốt những năm kháng chiến chống Pháp, nơi cội nguồn cảm hứng cho những sáng tác của ông năm nào và có lẽ cả cuộc đời.

    … Vẫn bộ quần áo bộ đội cũ, vẫn cái mũ len đỏ, vẫn dáng người nhỏ bé và cái cười móm mém như xưa, ông bảo ông vừa ghé qua nhà Xuân Thiều, ông phải vội về quê nên chỉ ngồi với nhau được chừng một tiếng. Trong khoảng nửa giờ, ông cùng Trúc Hà (ông vẫn quen gọi nhà văn Nam Hà bằng cái bút danh thời 9 năm) ôn lại những kỷ niệm tươi đẹp khi còn sống và viết ở “phố nhà binh”. Ông nói ông coi “số 4-Lý Nam Đế” là trụ sở hội nghề nghiệp của ông. Nét mặt của ông như trẻ lại khi nghe nhà văn Trung Trung Đỉnh-một đồng đội lớp sau, một “lính trung đoàn” 42 chính hiệu, nơi ông từng chiến đấu năm xưa, say sưa hát một bài ca truyền thống của trung đoàn với giọng khê nồng…

    Trước khi chia tay, Phù Thăng đọc cho chúng tôi nghe một bài thơ. Bài thơ có cái tên rất dài: ÔNG, BÀ VÀ CÚN-KỲ-ANH. Ông bảo đây là “một truyện thơ để tặng thần đồng thơ Trần Đăng Khoa, để cùng nhớ một thời thơ ấu…”. Ông không đưa “bản gốc” của bài thơ với lý do “chửa muốn in”. Bài thơ có một câu kết như sau:

           Có được cái tên cho một Con Người

           Đâu phải sự dễ?...

    Có được cái tên cho một Con Người là khó, có được một cái tên Phù Thăng cũng chẳng dễ dàng gì. Ông rất hiểu câu “nhân sinh bách nghệ, văn học vi tiên”. Cũng rất biết vì sao các cụ nói “Danh cương lợi tỏa” (vòng danh lợi gò bó người ta, làm mất tự do của người ta). Và khi tuổi đã cao, ông mới thấm thế nào là “Danh lợi bất như nhân” (đua chen danh lợi, sao bằng sống nhàn nhã rảnh rang). Cái tên Phù Thăng chẳng biết ông chọn vào lúc nào, chỉ biết lúc đó ông còn trẻ và rất nhiều mộng ước. Đã có lúc, ông thích câu thơ của Nguyễn Công Trứ:

          Đã mang tiếng ở trong trời đất

          Phải có danh gì với núi sông

    Nên khi ông giải thích rằng, Phù Thăng đơn giản là nói lái từ chữ Thằng Phu (tên thật ông là Nguyễn Trọng Phu) hoặc Phù Thăng viết theo kiểu tiếng Pháp là Fou Thang (tiếng Pháp fou nghĩa là thằng điên) nhiều người đã rất không tin, không tin vào những lời đồn đại như những giai thoại, như những chuyện huyền thoại ví như việc ông “chôn bản thảo”, việc ông vừa đi chăn vịt vừa làm thơ tiếng Pháp… Nhưng bạn bè ông trên Hà Nội tin là Phù Thăng vẫn đang viết, vẫn rất tha thiết với văn học bởi trước lúc đi xa (2008) ông còn gửi lại cho đời những  Phá vây (tập II), Bông vạn thọ (trường ca), Lịch sử Trung đoàn 42 và rất nhiều bản thảo thơ (cả Việt ngữ và Pháp ngữ)...

    Và như vẫn còn đó một Phù Thăng “con nuôi trung đoàn”, một Phù Thăng “biển lửa”… và dẫu hôm nay có là “cành đào trên giấy” thì cành đào ấy, năm này, xuân tới vẫn chưa thể phai màu.

      KIẾN VĂN

    vuhuyen

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...