Thứ Sáu, 18/11/2011, 20:55

    Một trung tâm hàng đầu về sử học

    QĐND - Trên tất cả mọi ý nghĩa, không ai có thể phủ nhận vai trò của nhận thức lịch sử trong quá trình vận động phát triển. Ở Việt Nam thời quân chủ, sử học và yêu cầu nhận thức lịch sử được đặc biệt coi trọng, từ các chính thể, giới nho sĩ, rồi ở một mức độ nhất định, phổ biến trên bình diện xã hội...

    QĐND - Trên tất cả mọi ý nghĩa, không ai có thể phủ nhận vai trò của nhận thức lịch sử trong quá trình vận động phát triển. Ở Việt Nam thời quân chủ, sử học và yêu cầu nhận thức lịch sử được đặc biệt coi trọng, từ các chính thể, giới nho sĩ, rồi ở một mức độ nhất định, phổ biến trên bình diện xã hội. Trong cuộc đấu tranh giành độc lập thời kỳ Pháp thuộc, truyền thống yêu nước quật khởi của dân tộc luôn được nhấn mạnh và thực sự là một nội lực tinh thần to lớn có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, nhất là sau ngày miền Bắc được giải phóng, việc nghiên cứu lịch sử, nhất là lịch sử dân tộc, được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Nhiều cơ sở đào tạo và nghiên cứu lịch sử được thành lập tại các trường đại học, các cơ quan nghiên cứu khoa học Trung ương và địa phương. Một nền sử học Việt Nam mới hình thành và phát triển và đã đạt được những thành tựu to lớn, trên cả hai phương diện nghiên cứu và đào tạo, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    Trong thành tựu chung đó, có đóng góp nổi bật của một trung tâm đào tạo và nghiên cứu lịch sử hàng đầu của đất nước, có uy tín quốc tế cao - đó là Khoa Lịch sử Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội). Là một trong bốn khoa cơ bản đầu tiên của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội được thành lập từ năm 1956, đến nay Khoa Lịch sử đã trải qua 55 năm xây dựng và phát triển. Nhìn vào đội ngũ các nhà giáo - nhà khoa học với nhiều tên tuổi nổi tiếng, vào sản phẩm đào tạo và nghiên cứu khoa học, hơn một nửa thế kỷ, đã có một “di sản sử học” thực sự đồ sộ được “làm ra” từ Khoa Lịch sử.

    Khoa Lịch sử từng là nơi làm việc của các Giáo sư Trần Đức Thảo, Trần Văn Giàu, Đào Duy Anh, là những nhà triết học, nhà sử học, nhà văn hóa lừng danh. Các ông là những Chủ nhiệm khoa, Chủ nhiệm bộ môn đầu tiên và mặc dù chỉ công tác ở Khoa Lịch sử trong một thời gian rất ngắn (hầu hết đều chuyển cơ quan vào cuối những năm 50) nhưng đã đóng một vai trò hết sức to lớn trong việc xây nền đắp móng cho một đơn vị đào tạo và nghiên cứu lịch sử lớn. Chính các ông vừa là thầy dạy, vừa là người rèn cặp trong bước đi đầu tiên, để rồi Khoa Lịch sử và cả nền sử học, khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam hiện đại có được một “bộ tứ”, “tứ trụ” nổi tiếng Đinh Xuân Lâm, Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng - những tên tuổi từ lâu đã rất quen thuộc trong giới khoa học và trong xã hội, trong nước và quốc tế. Đến nay, tại đơn vị đào tạo và nghiên cứu sử học này đã có 14 người được phong học hàm Giáo sư, 26 người được phong học hàm Phó giáo sư; 4 người được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, 4 người được tặng Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ, cùng nhiều giải thưởng khác ở trong và ngoài nước; 11 người được phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân và 10 người được phong tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú.

    No image available
    Từ phải qua trái, các giáo sư: Đinh Xuân Lâm, Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng, trong ngày sinh cố giáo sư Đào Duy Anh. Ảnh: VVQ

    Trong 55 năm, từ Khoa Lịch sử, đã có khoảng 5.500 cử nhân, gần 500 thạc sĩ và 112 tiến sĩ đã được đào tạo. Điều đáng nói là chất lượng của các sản phẩm đào tạo này đã được xã hội thừa nhận và đánh giá cao. Từ lâu, một “triết lý đào tạo” ở Khoa Lịch sử, hình thành từ các thế hệ đầu tiên và được trao truyền cho đến nay, là chú trọng về phương pháp, về năng lực tìm tòi phát hiện và kỹ năng giải quyết các vấn đề khoa học hơn là chỉ cung cấp tri thức thuần túy. Chính vì thế, từ ngành Lịch sử với nhiều chuyên ngành đào tạo như: Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Thế giới, Khảo cổ học, Dân tộc học, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lý luận sử học và gần đây là Văn hóa học, các sinh viên tốt nghiệp từ Khoa Lịch sử có mặt ở rất nhiều các lĩnh vực công tác: Làm sử, làm văn hóa, làm văn, làm báo, làm quản lý…, từ trung ương tới địa phương, khắp trong Nam ngoài Bắc và họ đều hoàn thành tốt nhiệm vụ.

    Khi nói đến “di sản sử học” của Khoa Lịch sử, một phần “đồ sộ” bậc nhất là các công trình nghiên cứu sử học. Đến thời điểm hiện tại, đã có gần 5.500 công trình nghiên cứu khoa học của cán bộ Khoa Lịch sử được công bố, cả trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, vấn đề không phải chỉ ở số lượng, mà điều đáng nói hơn, là ở những phát hiện lớn về mặt khoa học và những đóng góp lớn về mặt thực tiễn của các công trình sử học này.

    Cuối những năm năm mươi, đầu những năm sáu mươi, một số công trình mang ý nghĩa nền móng về lịch sử Việt Nam đã được biên soạn, như “Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến cuối thế kỷ XIX” của Đào Duy Anh, “Lịch sử Việt Nam cận đại” của Trần Văn Giàu, Đinh Xuân Lâm, Nguyễn Văn Sự, “Sơ yếu khảo cổ học nguyên thuỷ Việt Nam” của Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn và đặc biệt là bộ “Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam” đồ sộ gồm 3 tập của Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Đinh Xuân Lâm, Chu Thiên, Vương Hoàng Tuyên. Các bộ sách này đã trở thành những giáo trình chính thức không chỉ của Khoa Lịch sử mà còn của nhiều cơ sở đào tạo sử học khác.

    Từ giữa những năm 60 và đầu những năm 70, khi mọi nỗ lực của cả dân tộc dồn vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, một yêu cầu cấp thiết đặt ra cho sử học lúc này là tập trung nghiên cứu về lịch sử kháng chiến chống ngoại xâm, để làm sáng tỏ những truyền thống vẻ vang của dân tộc, động viên và khích lệ tinh thần yêu nước của bộ đội và nhân dân. Một loạt các công trình nghiên cứu có giá trị khoa học và thực tiễn lớn lao, mang ý nghĩa “cổ điển” của sử học Việt Nam hiện đại được hoàn thành, nổi bật như: “Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông ở thế kỷ XIII” của Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm, “Khởi nghĩa Lam Sơn” của Phan Huy Lê và Phan Đại Doãn... Cũng trong bối cảnh đó, cùng với giới khoa học miền Bắc, Khoa Lịch sử đã rất tích cực trong việc nghiên cứu về thời đại dựng nước đầu tiên của dân tộc. Trên cơ sở các thành tựu chung đó, vào đầu những năm 80, trong bộ giáo trình Lịch sử Việt Nam (từ khởi nguồn đến năm 938) do Giáo sư Phan Huy Lê tổ chức biên soạn với sự tham gia của các giáo sư: Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh, đã trình bày một cách hệ thống các nền văn hóa khảo cổ và đặc biệt, đã trình bày một cách hệ thống, khoa học quá trình hình thành, niên đại, không gian, đặc trưng Nhà nước Văn Lang thời đại các vua Hùng. Thành tựu này đã xác lập một nhận thức mang tính chính thống về thời đại dựng nước đầu tiên của dân tộc, trở thành cơ sở cho việc biên soạn các sách lịch sử cũng như việc giảng dạy lịch sử ở các cấp học.

    Một trong những đóng góp khoa học xuất sắc của Khoa Lịch sử là nghiên cứu về Thăng Long - Hà Nội, bắt đầu từ những năm 60, 70 của thế kỷ trước. Trong danh mục “Tủ sách Thăng Long ngàn năm văn hiến” vừa ra măt trong dịp Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, có đến 23/94 đầu sách là do cán bộ Khoa Lịch sử, hiện đang công tác tại khoa, tại các đơn vị thuộc trường, thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội hoặc đã nghỉ hưu biên soạn.

    Có thể nhận thấy, ở lĩnh vực nào của sử học cũng có dấu ấn nổi bật của Khoa Lịch sử, trên cả hai mặt phát hiện và giải quyết vấn đề: Về văn hóa Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun của quá trình văn hóa Đông Sơn, về văn hóa Sa Huỳnh; về lịch sử chống ngoại xâm và các giá trị truyền thống của dân tộc, về làng xã, nông nghiệp, nông dân, về đô thị và đô thị hóa, về biến đổi kinh tế, xã hội và hóa thời kỳ cận đại, về quá trình hoàn thiện đường lối cách mạng Việt Nam, về tiếp xúc và giao lưu văn hóa, về quan hệ Việt Nam với khu vực và thế giới, về quá trình xác lập và thực thi chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa…

    Định hướng nghiên cứu khoa học của Khoa Lịch sử trong thời gian tới sẽ vẫn tập trung vào các chủ đề lớn: Về lịch sử vùng đất phía Nam, nhất là Nam Bộ, về đô thị và quá trình đô thị hóa ở Việt Nam, về các vùng văn hóa, các không gian văn hóa và mối giao lưu văn hóa trong nước và quốc tế; về các mối quan hệ và quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông; về mối quan hệ quốc tế, quá trình hội nhập và con đường phát triển đặc thù của Việt Nam.

    Gần đây, trước những bức xúc về vấn đề dạy và học sử và sự thờ ơ của một bộ phận xã hội đối với lịch sử dân tộc, Khoa Lịch sử đang tập trung vào việc biên soạn các bộ sách mang tính phổ thông nhằm phổ biến tri thức lịch sử và đặc biệt là sự tìm tòi, đổi mới trong cách thể hiện vừa đảm bảo tính hệ thống, vừa đảm bảo tính hấp dẫn và đặc biệt là tính khách quan và trung thực của sử học.

    Những thành tựu trong đào tạo và nghiên cứu sử học, những đóng góp xã hội của Khoa Lịch sử từ sớm đã được ghi nhận. Năm 2000, Khoa Lịch sử được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trao tặng danh hiệu Anh hùng Lao động.

    Huy Đức                                                                                                                                                                       

    vuhuyen

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...