Thứ Bảy, 14/02/2009, 22:04

    Nam Thanh, Bắc Nghệ - Một góc nhìn

    Nếu liên thủ hai vùng đất nam Thanh Hóa (Như Xuân, Tĩnh Gia) và bắc Nghệ An (Quỳnh Lưu, Nghĩa Đàn) với nhau thì vùng này sẽ là một địa hình của nước Việt Nam thu nhỏ, với địa chính trị- quân sự- kinh tế vô cùng lợi hại...

    Nếu liên thủ hai vùng đất nam Thanh Hóa (Như Xuân, Tĩnh Gia) và bắc Nghệ An (Quỳnh Lưu, Nghĩa Đàn) với nhau thì vùng này sẽ là một địa hình của nước Việt Nam thu nhỏ, với địa chính trị- quân sự- kinh tế vô cùng lợi hại. Bởi vùng đất này đủ cả núi non, sông biển, trung du và đồng bằng. Dải đồi núi phía bắc là phần tiếp nối của hệ thống núi đá vôi Hòa Bình, Ninh Bình và Thanh Hóa theo hướng tây bắc - đông nam. Từ núi Bò Lăn giáp Thanh Hóa đến núi Mồng Gà ăn ra biển là núi Đông Hồi và kéo xuôi thành mỏm Đầu Rồng, tạo nên khu thiên nhiên Hữu Lập. Giới hạn phía sau của dãy núi này là con sông Hoàng Mai bắt nguồn từ núi Văn Lâm, qua Bến Nghé và đổ ra Cửa Thạp. Đây là con sông nước mặn lớn nhất của vùng này. Dải đồi núi phía tây bắt nguồn từ trại Rốc Đỏ, qua núi Chóp Đình và núi Bồ Bồ chạy về xuôi theo hướng Tây Bắc. Địa thế từ đó thấp dần một cách đều đặn tạo nên một dải bán sơn địa, gối chân vào đồng bằng là hệ thống những ngọn đồi kế tiếp chạy từ bắc xuống nam. Đó là núi Dừ, Mộ Dạ, Trụ Hải, Hòn Ách. Đồng bằng vùng này khá bằng phẳng, theo tài liệu địa chất thì xưa kia đây là một vùng biển cổ, được các cuộc vận động đùn xếp của bề mặt trái đất nâng lên, nền đất lâu đời được bồi trúc dần thành những lớp phù sa cổ. Cho tới lúc, nó được nâng cao hẳn so với mặt nước biển. Chạy dọc theo ven biển từ bắc xuống nam có lèn và núi nhỏ, như Rú Truông, Rú Cháy, Rú Lập, Hòn Ói, Rú Rồng, Rú Mành, Rú Kiến…; phía ngoài bờ biển là hệ thống các đảo. Hệ thống núi ven biển này có tác dụng quan trọng về mặt quân sự: lập các đồn, trạm gác canh biển. Nói tóm lại, địa hình vùng này gồm hai bộ phận hợp thành. Một là, vùng phía tây và tây bắc. Hai là, vùng đông và đông nam. Nằm vào địa đầu đất Nghệ An, có thế núi rừng hiểm trở, có đường thiên lý bắc-nam và có ba cửa biển cổ, vùng Cân Hải (Cửa Cờn), ngày xưa là cảng Xước. Cảng này giáp núi, gần đường giao thông, là cảng lớn của trấn Nghệ An-có vị trí trọng yếu về quân sự. Bên cạnh đó là hai cửa biển: Cửa Thơi (Thai Môn) và Cửa Quèn (Quyền Môn). Đây cũng là hai vị trí quân sự quan trọng.

    Thế kỷ X, Đinh Bộ Lĩnh đã một thời đóng quân ở Bàn Đột ( Ngũ Bàn) dựa vào kế của Hồ Hưng Dật để đánh dẹp các sứ quân khác. Khi Đinh Bộ Lĩnh dẹp yên loạn 12 sứ quân, lập nước Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư thì vùng nam Thanh Hóa, bắc Nghệ An trở thành chỗ dựa vững chắc của quốc gia. Khi Lê Hoàn lên ngôi Hoàng đế, ông đã cho khơi dòng kênh Sắt (còn gọi là kênh nhà Lê) ở vùng này. Đây là một công trình thủy lợi phục vụ phát triển nông nghiệp và giao thông. Không những thế, nó còn có tác dụng ngăn chặn, ứng phó kịp thời với quân xâm lược phương bắc và là đường hành quân nội địa an toàn từ kinh đô Hoa Lư vào để chống lại các thế lực phong kiến phương nam xâm lấn. Nhà Lý, mặc dù đã dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long nhưng vẫn xây dựng vùng này thành hậu phương lớn, xây cất hơn 50 cơ sở kho tàng để dự trữ quân lương chiến lược. Ngoài ra, còn cho xây các đồn binh để canh phòng, bảo vệ. Để thêm phần chủ động đối phó với các cuộc tiến công xâm lược nước ta của quân Mông- Nguyên, thế kỷ XIII, vua Trần đã cử Tĩnh Quốc Đại vương Trần Quốc Khang vào vùng này phát triển, mở mang kinh tế, xây dựng và củng cố “khu vực phòng thủ”. Trong cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần hai, mũi vu hồi của quân Mông-Nguyên do Toa Đô chỉ huy, từ Chăm-pa ra Thăng Long, đã bị quân của Thượng tướng quân Trần Quang Khải chặn đánh ở cảng Xước (Cửa Cờn ngày nay). Thời Hồ, đất Quỳnh Lưu vốn là “quê cha đất tổ” của Hồ Quý Ly, nên từ khi nắm quyền, ông đã cho Hồ Cương vào cai quản vùng đất này. Sau đó còn cho con là Hồ Nguyên Trừng và Hồ Công Mân vào giúp sức xây dựng vương phủ, kho tàng và đào hào đắp lũy… để phòng xa. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Thanh Hóa và Nghệ An là hậu phương lớn của cuộc kháng chiến. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, dân côngvùng đất này đã đóng góp phần lớn sức người, sức của cho mặt trận “ăn no, đánh thắng”. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, vùng đất này được địch mệnh danh là “vùng cán xoong”. Quân và dân nam Thanh, bắc Nghệ đã không quản mồ hôi và máu, đánh trả máy bay, tàu chiến Mỹ, đảm bảo mạch máu giao thông thông suốt để hậu phương lớn chi viện kịp thời sức người, sức của cho chiến trường miền Nam đánh thắng. Ngày nay, nơi đây là một địa bàn quan trọng để phát triển các khu công nghiệp nhằm đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Và hai tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa đều là các khu vực phòng thủ mạnh của Quân khu IV trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc./.

    HÀ THÀNH

    host

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...