Thứ Năm, 12/04/2007, 21:05

    Ngẫm dọc đường: Theo dấu các nhà thơ đời Lý

    Qua chính sử của nước ta, không có thời đại nào mà các thiền sư tham gia vào công việc triều chính của đất nước với mức độ cao như ở thời nhà Lý (1010-1225). Và, khi nhắc đến sự phát triển văn hóa tư tưởng nhà Lý, không thể tách rời ảnh hưởng của các thiền sư; đó cũng là một trong những nét khác biệt, tạo nên nhà Lý.

    Qua chính sử của nước ta, không có thời đại nào mà các thiền sư tham gia vào công việc triều chính của đất nước với mức độ cao như ở thời nhà Lý (1010-1225). Và, khi nhắc đến sự phát triển văn hóa tư tưởng nhà Lý, không thể tách rời ảnh hưởng của các thiền sư; đó cũng là một trong những nét khác biệt, tạo nên nhà Lý. Trước nhà Lý, ở vào thời Đinh Tiên Hoàng rồi Lê Đại Hành, các thiền sư đã tham gia vào quốc sự, như Đỗ Pháp Thuận (915-990), Ngô Chân Lưu (Khuông Việt) (993-1011); ngay Thiền sư Vạn Hạnh (?-1018) người có công khai sáng ra triều Lý, cũng đã từng cố vấn cho Lê Đại Hành. Về Vạn Hạnh, một người có công với nhà Lý như vậy, Ngô Sĩ Liên vẫn có những lời khắc nghiệt về ông: “Sư Vạn Hạnh mới trông thấy Lý Thái Tổ, biết là người khác thường, đến khi thấy sét đánh thành vết chữ thì đoán biết thời thế thay đổi, như thế có tri thức vượt người vậy. Nhưng dứt tính mệnh, bỏ nhân luân, chán trần tục ồn ào, nương cửa thiền tịch mịch, để trong sạch lấy một mình, người quân tử không cho là phải”.

    Ngoài những câu sấm truyền báo trước sự xuất hiện và sau đó là sự suy vong của nhà Lý, Thiền sư Vạn Hạnh còn để lại bài thơ “Thị đệ tử” nói về sự hưng suy diễn tiến như lẽ thường “Thân người như bóng chớp, có rồi lại như không/ Cây cối mùa xuân tốt tươi, mùa thu khô héo/ Tu đến “nhậm vận” thì không sợ hãi vì sự thay đổi thịnh và suy/ Thịnh suy như giọt sương đậu trên đầu ngọn cỏ”. Các nhà thơ đời Lý tập trung hướng tới quy luật hằng cửu bất biến của thiên nhiên, vũ trụ và của cuộc đời. Con người tồn tại giữa những qui luật đó, chịu sự chi phối của những quy luật đó. Sự giác ngộ của con người, là từng bước vén mở cái màn bí mật và dần chế ngự cái qui luật diễn ra không ngừng nghỉ đó. Sự trường tồn của con người là mãi mãi, nếu con người hòa một với thiên nhiên, với vũ trụ. Con người vượt lên trên qui luật là bởi HY VỌNG. Hy vọng là nguồn năng lượng không cạn kiệt giúp con người ôm sự sống vươn trùm lên thế giới.

    “Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết/ Đêm qua một cành mai nở trước sân” (Cáo tật thị chúng-Lý Trường); “Ngọc đốt trên núi/ Sắc vẫn sáng nhuần mãi/ Hoa sen nở trong lò vẫn ướt không khô” (Thị tịch-Đàm Khí). Các nhà thơ thời Lý, ngoài việc coi trọng sự vận hành của qui luật tự nhiên “Xuân qua trăm hoa rụng/ Xuân tới trăm hoa nở? Việc đời ruổi qua trước mắt/ Cảnh già hiện ra trên đầu” (Lý Trường), họ còn rất coi trọng trí tuệ. Các nhà thơ đời Lý, đa phần là thiền sư, nhưng những bài thơ viết ra không thuần do cảm hứng của Thiền, mà đó là cái vọng dội của đời sống đã được tích tụ, trải nghiệm, thẩm lậu qua khổ luyện lâu dài về thể xác lẫn tinh thần. Do vậy thơ của họ tỏa ra cái thần khí của trí tuệ. Trong nhiều phương thức hành động của con người, tu hành là một trong những phương thức để tiến tới giác ngộ và mặc khải chân lý: Nơi hiện hình chân, thiện, mỹ của đời sống. Thơ của họ không xa lạ với con người, mà ngược lại nó gần gũi, khẳng định những phẩm chất cao quý mà con người có thể đạt tới.

    "Thành được chính giác, ít khi dựa vào tu hành/ Vì tu hành chỉ là giam cầm cái ưu việt của trí tuệ/…/ Trí tuệ như trăng soi giữa trời (Cảm hòa-Kiều Phú).

    "Làm trai phải tự có chí xông lên trời/ Đừng đi theo từng bước đi của Như Lai" (Tự hữu xung thiên chí-Nguyễn Quảng Nghiêm).

    "Bảo là "có" thì tự hạt cát, mảy bụi đều "có"/ cho là "không" thì hết thảy đều "không"/ "Có" với "không" như ánh trăng đáy nước" (Từ Đạo Hạnh).

    "Phép huyền ảo đều là ảo/ Tu huyền ảo đều là ảo/ Biết hai cái ảo đó đều không đến đâu/ Ấy là trừ bỏ được mọi sự huyền ảo" (Huyền pháp-Lê Thuần).

    Trong hầu khắp thơ đời Lý là của các thiền sư. Nhưng, những bài thơ làm ta thảng thốt không chỉ là thơ ca của các thiền sư, Đoàn Văn Khâm (?-?), không theo nghiệp tu hành, ông là vị đại quan đã từng làm tới chức Thượng tư Bộ Công dưới triều Lý Nhân Tông. Những bài thơ của Đoàn Văn Khâm để lại, nhuốm màu thanh khiết trong lặng, giữa cõi tịch mịch vút lên vời vợi niềm hiện hữu của con người. Trên chốn trần gian, chỉ có thể xác của người ta là mất đi, còn hình ảnh của họ luôn song tồn, không tịch diệt.

    "Xa lánh kinh thành vào rừng ở tới bạc đầu/ Trên núi cao phất tay áo cà sa càng ngát mùi hương/ Mấy lần muốn đội khăn tu tới hầu bên chiếu/ Bỗng nghe người chỉ để lại chiếc giày, cửa Thiền đóng kín/ Sân trai phòng vắng lặng, chim kêu hoài dưới bóng trăng/ Các bạn tu hành chớ nên thương cảm nỗi vĩnh biệt/ Non nước trước chùa là hình ảnh thực của Người" (Vãn Quảng Trí Thiền sư).

    Ngày trước khi đọc bài thơ này, tôi cứ lưu giữ ấn tượng về một ngôi chùa cổ kính thâm u với hình ảnh vị thiền sư hằng ngày ngồi thiền định, đôi giày ngài để lại ngoài cửa. Cách đây dăm năm, vào một lần lên thăm chùa Mía (Đường Lâm, Sơn Tây), tại nhà tổ có treo bức Phật họa: Bên bờ sông lớn, Bồ đề Đạt Ma đang rảo bước quẩy theo một chiếc giày. Sư Viên Thành có kể lại đoạn Phật thoại về bức Phật họa này.

    Bồ đề Đạt Ma (Boddhidama), thủy tổ dòng Thiền tông ở Trung Quốc mất, táng ở chân núi Hùng Nhĩ. Khi người Trung Quốc là Tống Vân đi sứ sang Tây vực (Ấn Độ) lại gặp Đạt Ma đang cầm một chiếc giày nói là đi sang Tây Trúc. Tống Vân khi về Trung Quốc, cho người đào mộ Đạt Ma mở áo quan ra xem, thấy chỉ còn lại một chiếc giày. Thì ra con người ta sau khi tịch, hình ảnh của họ vẫn hằn dấu lên những kỷ vật xung quanh. Thể xác của con người là giới hạn, nhưng hình ảnh của họ để lại là vô hạn, "Non nước trước chùa là hình ảnh thực của người". Con người và sự bất diệt là nguồn cảm hứng tập trung cao độ của các nhà thơ đời Lý. Đó là những dấu hằn hắt một nguồn sáng từ thế giới tinh thần sung mãn.

    "Có lúc lên thẳng đỉnh cao chót vót/ Kêu một tiếng dài lạnh cả bầu trời" (Ngôn hoài-Dương Không Lộ).

    Thơ của các nhà thơ đời Lý phát khởi TỪ KHÍ, thần khí đó qua thời gian xuyên thấu tới hôm nay.

    * Những dẫn chứng trong bài dựa theo "Thiền uyển tập anh" và "Tổng tập Văn học Việt Nam-1".

    Việt Trì
    host

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...