Thứ Năm, 05/07/2007, 20:01

    Ngẫm dọc đường: Thơ, vần hay không vần

    “Nếu không có thơ vần, tất cả chúng ta đều là thiên tài”. Oscar Wilde khẳng định như thế. Một khẳng định không phải không nguyên do, trong tình hình các người làm thơ phương Tây đầu thế kỷ XX đổ xô làm thơ không vần, kịch liệt chống đối thơ vần.

    “Nếu không có thơ vần, tất cả chúng ta đều là thiên tài”. Oscar Wilde khẳng định như thế. Một khẳng định không phải không nguyên do, trong tình hình các người làm thơ phương Tây đầu thế kỷ XX đổ xô làm thơ không vần, kịch liệt chống đối thơ vần.

    Bài thơ Mouvement (Chuyển động) trong tập thơ-văn xuôi Illuminations của A.Rimbaud được xem là bài thơ tiếng Pháp đầu tiên có những câu ngắn dài không đồng đều và không vần, ảnh hưởng trực tiếp đến G.Apollinaire, nhà thơ tự do hàng đầu của Pháp, đã khai mào cho Thơ Tự do phương Tây. Từ đó, thơ không vần nảy nở và phát triển mạnh mẽ. Từ đầu thế kỷ XX, thơ không vần chiếm lĩnh áp đảo thi đàn Pháp.

    Ở Mỹ W.Whitman được xem là nhà cách mạng, đưa thơ Mỹ vượt qua thẩm mỹ thơ đương thời, trong đó vần là yếu tố bị trừ khử đầu tiên.

    “Ở Nhật, từ năm 1945, vần điệu dễ dãi của những đoản ca, hài cú đã bị công kích và khước từ. Ở Trung Quốc, Đài Loan các nhà thơ hiện đại đã dẹp bỏ vần điệu, niêm luật xưa. Các thi sĩ Ả-rập, Ấn Độ cũng đã đổi mới triệt để cú điệu và hình thức trong sáng tác thi ca của họ”. Chân Phương viết thế.

    Nguồn sữa nuôi dưỡng thơ Việt chính là ca dao, nghĩa là văn chương truyền khẩu. Mà văn chương truyền khẩu không thể đi chệch khỏi vần: dễ thuộc, dễ nhớ và dễ ngâm. Tiếp nhận Thơ Đường của Trung Hoa, ta cứ vậy, cho tận khi phong trào Thơ Mới xuất hiện. Nhưng Thơ Mới, một biến thái của ca dao, Hát nói qua ảnh hưởng của Trường Lãng mạn và Hiện thực Pháp, dù đã làm nên cuộc cách mạng trong thơ Việt, vẫn không một lần từ bỏ vần.

    Ý hướng cắt đứt thơ vần được Nguyễn Đình Thi khơi mào vào những năm 50, đã bị chống đối kịch liệt, đành nửa đường đứt gánh. Nỗ lực này chỉ đạt một vài thành tựu hiếm hoi qua một số các thi sĩ những năm 60.

    Thế rồi tất cả đều trở lại vạch xuất phát. Dẫu các sáng tác sau đó có câu ngắn dài không đồng đều, sử dụng vần buông hay cả khi từ bỏ vần, thơ Việt vẫn cứ bị ám ảnh bởi vần. Trúc Thông ám ảnh vần đã đành, cả Nguyễn Quang Thiều mà có người chê thơ như thơ dịch cũng không rời bỏ vần: vần ẩn tàng qua nhịp bằng trắc lên xuống trong câu:

    Nến được đốt lên sớm hơn mọi thế kỷ trước

    Những vết rạn dương gian chầm chậm tràn tràn đầy

    Ánh hoàng hôn-đấy bình minh linh ẩn

    Dâng ngập những mái nhà, những vòm cây,

    những đỉnh núi u trầm.

    Chỉ khi một thế hệ thơ trẻ xuất hiện ồ ạt trong mươi năm qua, vần mới được/bị từ bỏ hẳn. Quá là chậm trễ so với thế giới. Trong lúc ở Pháp, sau hơn một thế kỷ phiêu lưu (và gặt hái không biết bao nhiêu là thành tựu) với thơ không vần, các nhà thơ trẻ hiện nay đang quay trở lại với thơ vần!

    Tại sao vần có mặt và bám trụ dài dặc thế trong thơ Việt? Truyền thống ca dao, Thơ Đường, Thơ Mới quy định lề thói sáng tác và thưởng thức của chúng ta. Người viết bị quy định đã đành, trầm trọng hơn cả là vần tồn tại dai dẳng trong việc cảm nhận thơ của người đọc. Cái mới xuất hiện chẳng những không được đón nhận mà còn bị dị nghị, dị ứng rồi bị tẩy chay. Vụ án thơ không vần ở trường hợp Nguyễn Đình Thi là một ví dụ.

    Nhưng có phải bởi vần mà nền thơ Việt không lớn?

    Không, vần không là một tội phạm khiến thơ bị nhàm. Vần hay một thể thơ nào bất kỳ luôn phát triển theo chu kỳ: tìm tòi-hoàn chỉnh và ổn định-phiêu lưu phá giới-rồi trở lại tìm tòi để ổn định. Hành trình từ Thơ Cổ phong Trung Quốc đến trước thời Đường, sang Sơ Đường mày mò rồi mới đạt tới luật tắc ổn định và nghiêm ngặt của Thịnh Đường, để sau đó lại tiếp tục… phá thể (ví như bài Hoàng Hạc lâu thời Sơ Đường, dẫu hay đến đâu nhưng xét về luật thơ, nó cũng chưa thật chặt chẽ như chuẩn mực đòi hỏi của thơ Đường).

    Tô Thùy Yên: “Thơ tự do, cũng như thơ mới trước kia, ra đời vì sự thay đổi của hồn thơ, chớ không phải chỉ đơn thuần là sự thay đổi của luật thơ”. Phê bình thơ trẻ hôm nay, Nguyễn Thanh Sơn có cùng nhận định: “Cái chính là, một tinh thần mới cho thơ, các nhà thơ trẻ lại chưa có”.

    Như vậy, “sự thay đổi hồn thơ” hay “một tinh thần mới cho thơ” có vai trò quyết định cái hay và cái mới “lớn” của thơ, chứ không phải vần hay luật tắc của một thể thơ nào đó: từ lục bát, tám chữ, Thơ Mới phá thể hay cả Thơ Tự do. Vần, nguy cơ đánh lừa người đọc dễ tính rằng như thế mới là thơ. Nhà thơ dễ làm vần: chẳng nỗ lực gì cả nhưng chúng ta vẫn “hoàn thành” một bài thơ có vần: ta quay lại tự đánh lừa. Và thơ cứ giậm chân tại chỗ!

    Vần hay không vần, không hề gì cả, quan trọng là tinh thần mới. Tinh thần mới đặt trên nền đất vững chắc của văn hóa, suy tư nền tảng qua tiếp nhận luồng gió từ trăm phương thổi tới bằng nhạy cảm bắt nhịp cuộc sống hiện đại. Làm thành nhịp điệu của tâm hồn người thi sĩ.

    Chính nhịp điệu này quyết định vần hay không vần của một bài thơ, thậm chí một đoạn/câu thơ. Nhịp điệu tùy thuộc vào “miền dao động và rung động” (từ dùng của nhà thơ Đỗ Quyên) của kẻ sáng tạo.

    Phú Trạm

    host

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...