Thứ Tư, 27/05/2009, 23:37

    Nghề làm giấy sắc phong

    Khảo sát ở phường Nghĩa Đô và lời kể của các cụ trong dòng họ Lại cho thấy: Họ Lại làng Nghĩa Đô khởi nghiệp làm giấy sắc từ thời Lê-Trịnh, rồi phát triển đến nay trong suốt mấy trăm năm...

    Khảo sát ở phường Nghĩa Đô và lời kể của các cụ trong dòng họ Lại cho thấy: Họ Lại làng Nghĩa Đô khởi nghiệp làm giấy sắc từ thời Lê-Trịnh, rồi phát triển đến nay trong suốt mấy trăm năm. Các cụ cho biết, làm giấy sắc (một loại giấy dó) rất công phu. Giấy sắc dùng để phong sắc cho hàng nhất phẩm (phẩm trật hàng đầu) phải có 5 thợ cùng làm một lúc mới xeo nổi 1 tờ. Giấy để phong sắc cho hàng phẩm trật thấp hơn (từ nhị phẩm xuống cửu phẩm), khổ giấy hẹp, cũng phải 3 người thợ làm 1 tờ. Khâu tinh xảo đòi hỏi tay nghề rất cao là phần vẽ rồng trên giấy sắc-đây là công đoạn cuối cùng, khó nhất, cầu kỳ nhất và cũng là nghệ thuật nhất. Những người thợ giỏi như các cụ Tám Hoàn, cụ Sáu Tơ, cụ Xã Lịch thì vẽ "chạy". Những thợ kém hơn thì chỉ vẽ "đồ", tức là cứ theo nét "chạy" mà tô kim nhũ, vàng, bạc.

    No image available
    Giấy sắc phong. Ảnh minh họa

    Ngoài những công đoạn cơ bản như sản xuất các loại giấy dó khác, giấy sắc có thêm một số công đoạn kỳ công, phức tạp mà các loại giấy dó thông thường không phải làm như bôi keo, nhuộm và làm "nghè". Bôi keo là làm cho giấy thêm dai, không hút ẩm và chống mối mọt. Nhuộm là để giấy có màu sắc đặc trưng. Thường người ta nhuộm giấy bằng bột hoa hòe giã nhỏ. Khi nhuộm phải nhuộm cả hai mặt thì giấy mới có màu vàng bóng và dày dặn. "Nghè" là công đoạn làm cho giấy mỏng hơn và dai hơn. Nghè tức là dùng vổ chày giã, đập lên một chồng, một xếp giấy khoảng 4-5 tờ trên một đe đá. Khi nghè nghe tiếng chày giã đanh, giấy đã mỏng và bóng là được, thợ nghè phải có sức khỏe và khéo léo. Những người có kinh nghiệm mới được đảm nhiệm công việc này.

    Nghệ nhân làm giấy sắc luôn giữ bí quyết kỹ thuật "đánh vàng, đánh bạc". Dụng cụ đánh vàng bạc là chày và những cái bát cực lớn. Để giữ bí mật nghề nghiệp, các cụ thường làm công việc này ở nơi kín đáo nhất trong nhà, nhằm tránh người ngoài học lỏm. Chẳng hạn nhà cụ Tám Hoàn có bàn thờ lớn, gần bàn thờ bố trí một diện tích khá rộng, đây là nơi cụ chuyên làm công việc đánh vàng, đánh bạc hết sức bí mật này. Đáng tiếc là cụ Tám Hoàn đã mất từ lâu mà dường như sinh thời cũng chưa truyền lại nghề cho ai, kể cả con cháu của cụ-ở đó hiện còn một tảng đá xanh, mặt rất phẳng, rộng khoảng 60x80cm, xưa dùng để "nghè" giấy. Đấy là kỷ vật duy nhất của cụ Tám còn để lại, các dụng cụ đánh vàng, bạc của nghệ nhân này đã mất cả.

    Tại Nghĩa Đô trước đây không chỉ có một người, một nhà làm. Dưới triều Nguyễn-vào thời vua Khải Định-có năm Nhà nước đặt thợ Nghĩa Đô làm hàng vạn tờ giấy sắc. Năm 1925, vua Khải Định làm lễ "Tứ tuần đại khánh" dùng giấy sắc phong tước cho bách quan, bách thần nên năm đó làng Nghĩa Đô làm nhiều giấy sắc nhất. Giá giấy sắc rất cao, mỗi tờ giấy sắc thời đó là một đồng bạc Đông Dương (tương đương một lượng vàng), bởi giấy sắc làm rất khó, nguyên vật liệu để trang trí đều là vàng, bạc nguyên chất. Họ Lại ở đây có nhiều gia đình làm giấy sắc như nhà cụ Xã Vi, cụ Phó Nhiệm, cụ Trương Lại, cụ Trương Xứ, cụ Xã Lịch, cụ Phó Nhiên, cụ Bếp Kiệm…

    Làng nghề sản xuất giấy dó, giấy sắc truyền thống ở nước ta nói chung, Hà Nội nói riêng đã có một bề dày lịch sử. Các làng nghề truyền thống đã được Đảng và Nhà nước ta ghi nhận là một trong những di sản quan trọng cấu thành nền văn hóa Việt .

    Theo Tạp chí Thăng Long Hà Nội ngàn năm

    phucthang

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...