Thứ Bảy, 16/02/2013, 19:56

    Người một lòng dày công lưu giữ văn hóa Raglai

    QĐND Online - Ông đã dành nhiều thời gian, công sức nghiên cứu, sưu tầm và lữu giữ, bảo tồn những nét văn hóa đặc sắc của dân tộc Raglai. Thành quả mà ông thu được thật đáng trân trọng và đó là việc làm cần nhân rộng. Ông là Mấu Quốc Tiến, người dân tộc Raglai ở huyện Khánh Sơn (Khánh Hòa)...

    QĐND Online - Ông đã dành nhiều thời gian, công sức nghiên cứu, sưu tầm và lưu giữ, bảo tồn những nét văn hóa đặc sắc của dân tộc Raglai. Thành quả mà ông thu được thật đáng trân trọng và đó là việc làm cần nhân rộng. Ông là Mấu Quốc Tiến, người dân tộc Raglai ở huyện Khánh Sơn (Khánh Hòa).

    Ông Mấu Quốc Tiến kể, trong những năm tháng làm nhiệm vụ giảng dạy cho học sinh con em của dân tộc Raglai, rồi khi làm giảng viên Trường Đảng của huyện Khánh Sơn, mỗi lần nói về văn hoá của người Raglai, ông tiếc nuối và có khi còn bức xúc vì không có bất cứ tài liệu nào nói về đời sống, văn hoá của đồng bào mình. Nguyên nhân chính là do dân tộc Raglai chưa có chữ viết riêng, thành ra những nét văn hoá độc đáo của cha ông bao đời nay không thể ghi chép, lưu giữ, có khi còn dần mai một…

    Từ đó, ông bắt đầu ý thức và tâm huyết với việc sưu tầm, nghiên cứu, góp phần gìn giữ bản sắc văn hoá của người Raglai. Bước đầu, ông tham gia nhóm điều tra, sưu tầm, xây dựng và biên soạn bộ từ vựng Raglai cùng các ông Trần Vũ và cố nhà nghiên cứu văn hoá dân gian Nguyễn Thế Sang. Đề tài này được công bố vào năm 1996 với khoảng 3.000 từ (điều tra  khoảng 7.000 từ). Trên cơ sở đó, các ông xây dựng bộ chữ viết của người Raglai theo mẫu ký tự latinh với 6 nguyên âm và 31 phụ âm (19 phụ âm đơn, 12 phụ âm kép). Trước đó, vào những năm 1940, 1950, người Pháp cũng đã xây dựng bộ từ vựng ngôn ngữ của người Raglai. Đến khoảng năm 1960, tại vùng tự do huyện Bác Ái (tỉnh Ninh Thuận) đã có người làm báo bằng tiếng Raglai, tuy nhiên, do chiến tranh ác liệt, mẫu chữ viết sau đó đã bị thất lạc. 

    No image available

    Ông Mấu Quốc Tiến luôn nặng long với công tác bảo tồn văn hóa dân tộc Raglai.

    Đề tài đầu tiên ông nghiên cứu là “Chữ viết với việc bảo tồn và phát triển văn hoá Raglai”; rồi đến sưu tầm các loại sử thi (Akha Juca), dân ca, truyện cổ của người Raglai. Quá trình sưu tầm, nghiên cứu, ông nhận thấy, kho tàng sử thi, dân ca, truyện cổ của người Raglai hết sức đồ sộ. Mỗi bộ sử thi có độ dài hàng ngàn câu thơ với vốn từ cổ hết sức phong phú, từ ngữ bóng bẩy… thể hiện về lịch sử của người Raglai trong quá trình đấu tranh với thiên nhiên, ngoại tộc để bảo vệ địa bàn sống, những quan niệm của người Raglai về thiên nhiên, trời đất, con người… và những bản sắc văn hoá độc đáo của người Raglai. Tuy nhiên, kho tàng sử thi, dân ca, truyền cổ này đang đứng trước nguy cơ mai một bởi những người thuộc sử thi, hát được các loại Akha Juca, dân ca, truyện cổ ngày càng ít đi (theo ông, hiện nay chỉ còn 7 người hát được Akha Juca và hơn 10 người hát được dân ca). Chính vì vậy, từ năm 1996 đến nay, ông chuyển hẳn sang công tác sưu tầm, nghiên cứu và bảo tồn văn hoá của người Raglai. Ngày nắng cũng như ngày mưa, ông lặn lội đạp xe đạp, băng rừng, vượt núi đến các bản làng xa xôi, hẻo lánh, gặp những người thuộc sử thi, hát được Akha Juca, dân ca để ngồi nghe họ hát và ghi âm lại phục vụ cho việc sưu tầm, nghiên cứu và bảo tồn. Mỗi tác phẩm, ông phải ghi vào hàng trăm băng Cassette, có khi mất vài ba tháng trời để ghi hết một tác phẩm. kinh phí để sưu tầm hầu hết đều phải tự bỏ tiền túi. Tích cóp được đồng nào, ông bỏ ra hết để mua băng cassette và dụng cụ phục vụ cho việc sưu tầm, nghiên cứu. “… Khi đi thu băng phải đi vào những hôm trời mưa gió, hoặc ban đêm bởi khi ấy người dân mới có ở nhà. Có khi đang thu mà “tác giả” bị bệnh, lại phải bỏ tiền mua thuốc, đường sữa để thăm hỏi và chăm sóc...”, ông Tiến tâm sự.

    Cần mẫn và thầm lặng, đến nay ông đã thu âm được 5 tác phẩm sử thi với khoảng 300 cuốn băng cassette. Trong đó, tác phẩm “Udai-Uzac” đã được ông biên soạn và in thành sách với độ dài khoảng 2.000 trang song ngữ (Raglai - Việt). Đây là tác phẩm sử thi đầu tiên của người Raglai được in thành sách. Hiện ông đang tiếp tục biên soạn bộ sử thi “Nàng Tilơ” với trên 4.000 trang song ngữ (thu âm trong 50 băng cassette).

    Năm 2006, được sự hỗ trợ của Viện Văn hóa Dân gian và UBND huyện, ông đã mở lớp dạy sử thi cho một số thanh niên đồng bào dân tộc Raglai. Sau một thời gian học, các em tiếp thu và thuộc khá nhanh những tác phẩm Akha Juca. Qua đó, giúp các em hiểu thêm về truyền thống, văn hoá của dân tộc mình. Với những thành công bước đầu, được biết hiện UBND huyện Khánh Sơn đang chủ trương mở tiếp các lớp học sử thi để dạy cho đồng bào biết về bản sắc văn hoá của dân tộc mình.

    Song song với việc sưu tầm các tác phẩm sử thi, dân ca, truyện cổ Raglai, ông đi sâu nghiên cứu một số đề tài:  “Tín ngưỡng của người Raglai ở Khánh Hoà”, “Những yếu tố biển trầm tích trong văn hoá người Raglai ở Khánh Hoà”, “Thành ngữ, tục ngữ Raglai”, và đặc biệt là tác phẩm “Khánh hoà - diện mạo văn hoá một vùng đất” (đã xuất bản 9 tập, hiện đang biên soạn tập 10) mà ông đã dày công sưu tầm, nghiên cứu và biên soạn từ năm 2000 đến nay. Tất cả các tác phẩm do ông sưu tầm, nghiên cứu và biên soạn đều được Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam tặng thưởng.

    Bên cạnh đó, ông còn bỏ công sưu tầm hơn 70 hiện vật, có giá trị lịch sử, văn hóa của người dân tộc Raglai. Hiện nay, vừa làm công tác sưu tầm, nghiên cứu, ông vừa làm biên dịch cho chương trình tiếng Raglai trên Đài Phát thanh và Truyền hình Khánh Hoà. Những việc làm của ông đã và đang góp phần tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đến đồng bào dân tộc thiểu số; góp phần bảo tồn và giữ gìn văn hoá độc đáo của đồng bào dân tộc Raglai.

    Bài và ảnh: NAM PHONG  

    mthang

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...