Trở về quê nhà sau chiến tranh, ông luôn trăn trở với ý định khôi phục nghề nón thúng quai thao cổ truyền vốn có ở làng Chuông - nơi ông sinh ra và lớn lên. Trải qua biết bao gian khổ, nhiều lúc tưởng chừng ông phải bỏ cuộc, nhưng rồi thành công đã đến...
![]() |
| Gian nan không khuất phục được ý chí của người cựu chiến binh Trần Canh |
Trở về quê nhà sau chiến tranh, ông luôn trăn trở với ý định khôi phục nghề nón thúng quai thao cổ truyền vốn có ở làng Chuông - nơi ông sinh ra và lớn lên. Trải qua biết bao gian khổ, nhiều lúc tưởng chừng ông phải bỏ cuộc, nhưng rồi thành công đã đến.
Chính ý chí không ngại gian khổ của "anh bộ đội Cụ Hồ" đã thôi thúc ông đạt được thành công đó.
Làng Chuông hôm nay
Mới sáng sớm, lá nón đã được phơi khắp các triền đê. Nắng rọi đến đâu, những chiếc lá trong trẻo ra đến đó, hân hoan khoe những đường gân ngang dọc. Không khó khăn lắm, chúng tôi tìm được đến nhà cụ Trần Canh - người làm nón giỏi nhất làng Chuông (thuộc xã Phương Trung, huyện Thanh Oai, Hà Nội).
Chiến tranh đã cướp đi của ông một chân. Gần 50 năm qua, ông đi lại nhờ vào chiếc nạng gỗ. Không để ông phải đứng dậy tiếp đón, chúng tôi cùng ngồi bệt xuống đất để vừa được nghe ông kể chuyện, vừa được xem ông khâu nón. Đôi mắt ông vẫn luôn dõi theo những ngón tay chai sần thoăn thoắt đưa mũi kim lên xuống, mềm mại từ vòng trong ra vòng ngoài gần như chính xác tuyệt đối.
Ông tâm sự: "Nghề làm nón đòi hỏi sự kiên trì, tỉ mẩn. Đã bắt tay vào là phải khâu từ lúc bắt đầu cho đến lúc kết thúc, bởi nếu không, mũi khâu sẽ không đều, nón sẽ không đẹp".
Khắp làng chuông, đâu cũng thấy cảnh từ trẻ con đến người già khâu nón. Những đứa trẻ lên 5 tuổi đã được dạy khâu và biết khâu nón. Lớp học nghề miễn phí của ông Canh luôn rất đông, thu hút cả người dân từ tỉnh khác đến học. Trung bình một ngày, làng Chuông làm được 7.000 chiếc nón các loại.
Nón làng Chuông không chỉ được tiêu thụ trong nước, mà còn được rất ưa chuộng ở các nước như Trung Quốc, Nhật Bản và các nước Châu Âu. Nhờ có nghề phụ nên cuộc sống của người dân trong làng được cải thiện rất nhiều.
Nhìn lũ trẻ đang chơi đùa ngoài ngõ, bỗng nhớ chiếc nón khổng lồ được trưng bày tại triển lãm "Hình ảnh APEC và di sản văn hoá Việt Nam" 2007 (đường kính 3,6m) do chính lớp trẻ làng Chuông làm, khuôn mặt ông Canh lộ rõ nét phấn chấn: "Đúng là hậu sinh khả uý, lớp trẻ làng Chuông giờ giỏi giang lắm, năng động lắm. Tôi nghĩ, nếu có đơn đặt hàng những chiếc nón to hơn nữa, dân làng Chuông vẫn sẽ làm được!".
Gian nan tìm "hồn" cho chiếc nón cổ
Nghề làm nón quai thao cổ vốn là nghề truyền thống của người dân làng Chuông, Song, sau hai cuộc chiến tranh kéo dài, các cụ làm nghề nón quai thao cổ đều đã qua đời, lớp trẻ lớn lên đã đi bộ đội nên không biết làm. Từ đó, ở làng Chuông không còn ai làm nón cổ nữa...
Sau chiến tranh, ông Trần Canh trở về quê với mức thương tật 2/4, với tâm trạng tiếc nuối trước tình cảnh thất truyền của nghề làm nón. Hình ảnh làng quê với những triền đê phơi đầy lá nón, cậu bé Trần Canh hàng ngày ríu rít quanh nội xem bà khâu những chiếc nón đã in đậm trong ký ức tuổi thơ ông. Tình cảm đó đã hun đúc trong ông quyết tâm khôi phục nghề nón cổ làng Chuông.
Đến năm 1998, nhân một đoàn khách nước ngoài đến đặt mua 2 chiếc nón, với đường kính 2m để mang đi dự Hội chợ hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống tại 2 nước Czech và Đức, không do dự, ông đã nhận lời, dẫu biết rằng sẽ rất nhiều khó khăn.
Quả thật, công việc này đối với một người lành lặn đã rất khó, với một người mang thương tật nặng như ông khó khăn còn gấp bội, nhất là khi ngay cả nguyên vật liệu và khuôn mẫu cũng đã bị thất truyền.
Song với suy nghĩ: "Đây là cơ hội để khôi phục lại nghề truyền thống, cần phải chớp lấy. Nếu làm được, rồi đây cả thế giới sẽ lại biết đến thương hiệu nón làng Chuông quê mình". Nghĩ thế, nhưng nhận rồi, ông Canh lại vừa mừng, vừa lo.
Ông nói: "Bao đêm tôi không ngủ, cứ nghĩ đến là lại chẳng nuốt được miếng cơm. Nếu mình không làm được là có lỗi với tổ tiên". Đó cũng chính là lý do ông từ chối đến nghỉ tại Trung tâm Điều dưỡng thương bệnh binh Thuận Thành (Bắc Ninh) để ở lại làng.
Bao nhiêu gian nan, đã đến với ông Canh trong những ngày đi tìm lại chiếc nón cổ làng Chuông. Ông cùng với chiếc xe 3 bánh lặn lội khắp nơi, từ Hưng Yên, Thái Bình, Hà Bắc đến Đoan Hùng... để tìm cho bằng được chiếc nón, dù là cũ.
Ông tâm sự: "Vất vả lắm. Ngày đó, cầu phà nhiều, mỗi khi xuống bến phà khổ lắm. Đi cái chân gỗ lại phải dắt cái xe xuống bến phà khó và khổ vô cùng. Nhưng ngày nào chưa tìm ra, là ngày đó còn ăn không ngon, ngủ không yên".
Trời không phụ người tốt
Trong những lần lang thang đi tìm mẫu, ông mua được một chiếc nón quai thao ở chợ Đồng Xuân, Hà Nội. Ông mang về tháo rời ra để nghiên cứu kích cỡ, kiểu dáng, cách khâu rồi ghi chép lại một cách tỉ mỉ. Bằng trí nhớ của mình, ông hình dung lại cách làm nón mà ngày xưa bà nội từng làm. Để làm chiếc nón "khổng lồ" đó, ông treo lên trần nhà để khâu.
Những ngày đầu, chưa quen, kim đâm loạn xạ, khắp người chỗ nào cũng có vết trầy xước của tre nứa và kim đâm. Thấy ông đánh vật với những đường kim mũi chỉ, không ăn, không ngủ; lo lắng cho sức khoẻ của bố, các con ông đều khuyên ngăn, nhưng ông một mực không chịu dừng. Ông tự nhủ: "Đời lính Cụ Hồ, đánh giặc khó vậy còn làm được, thì có gì không làm được...".
Sau 20 ngày đêm nỗ lực, cuối cùng 2 chiếc nón đường kính 2m đã được hoàn thành trước sự thán phục của dân làng cũng như du khách quốc tế. Bởi đoàn khách nước ngoài này đã thử đi khắp nơi để đặt làm, song không ai dám nhận.
Phần thưởng dành cho 2 chiếc nón khổng lồ là 100USD (khi đó tương đương 1,4 triệu đồng). Dù vậy, số tiền đó cũng chẳng thấm vào đâu. Số tiền đó ông chẳng giữ cho bản thân, mà phần lớn dành ủng hộ xây nhà trẻ. Nhiều người bảo "ông hâm", nhưng ông chỉ cười: "Cái mà ông được lớn lắm chứ... cả thế giới bây giờ đã biết đến làng Chuông rồi...".
Theo Lao Động
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận