QĐND - Hoàng Lê nhất thống chí còn có tên gọi khác là An Nam nhất thống chí. Các bản in Hoàng Lê nhất thống chí đều viết: “Sơn Nam Thanh Oai huyện, Tả Thanh Oai, Thiêm thư Ngô Thì Thuyến soạn, cộng 17 hồi” nghĩa là: Ngô Thì Thuyến, chức Thiêm thư, người Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, (trấn) Sơn Nam soạn, cộng 17 hồi...
QĐND - Hoàng Lê nhất thống chí còn có tên gọi khác là An Nam nhất thống chí. Các bản in Hoàng Lê nhất thống chí đều viết: “Sơn Nam Thanh Oai huyện, Tả Thanh Oai, Thiêm thư Ngô Thì Thuyến soạn, cộng 17 hồi” nghĩa là: Ngô Thì Thuyến, chức Thiêm thư, người Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, (trấn) Sơn Nam soạn, cộng 17 hồi. Sách chia làm hai quyển. Mở đầu ghi “An Nam nhất thống chí quyển chi nhất”- quyển 1 sách An Nam nhất thống chí. Nhưng sau đó không thấy ghi quyển 2 hoặc quyển 3. Phần Mục lục ở đầu sách ghi liền một mạch không chia quyển. Cuối hồi 17 chốt bằng câu “An Nam nhất thống chí quyển chi chung”- hết quyển An Nam nhất thống chí. Cuối sách là dòng lạc khoản: “Long phi Kỷ Hợi niên, hạ lục nguyệt, thập ngũ nhật, Hàn lâm thị độc, sung Bắc Kì Thống sứ phủ, thực thụ đệ ngũ đẳng, Lục sự Nguyễn Hữu Thường phụng lục”, nghĩa là: Rồng bay năm Kỷ Hợi (1899), mùa hè, tháng 6, ngày 15. Nguyễn Hữu Thường, chức Thị độc viện Hàn lâm, sung Lục sự thực thụ hạng 5, thuộc phủ Thống sứ Bắc Kỳ chép.
Những tư liệu khẳng định tác giả Hoàng Lê nhất thống chí là Ngô Thì Chí khá nhiều như: Ngô gia thế phả, Vũ Trung tùy bút của Phạm Đình Hổ, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú , Lời tựa Hoàng Việt long hưng chí của Ngô Giáp Đậu... Nhưng Ngô Thì Chí chỉ viết 7 hồi đầu, ông mất năm 1788 khi đang bôn ba giúp Lê Chiêu Thống trung hưng cơ nghiệp. Người viết tiếp 10 hồi Hoàng Lê nhất thống chí là Ngô Thì Du như lời tựa của Ngô Giáp Đậu và Ngô gia thế phả ghi. Có nhà nghiên cứu cho rằng, Ngô Thì Du viết đến hồi 14, còn lại là Ngô Thì Thuyến. Nhưng điều này Ngô gia thế phả không ghi. Hơn nữa, cần lưu ý sự kiện ngày 15-6-1899, Nguyễn Hữu Thường đem in Hoàng Lê nhất thống chí và ghi tác giả là Ngô Thì Thuyến. Song trong họ Ngô, chỉ có Ngô Thì Chí là giữ chức Thiêm thư. Sách ban hành được 3 tháng, thì Ngô Giáp Đậu bắt đầu viết Hoàng Việt long hưng chí mất 6 năm. Thời gian này đủ để bản in Hoàng Lê nhất thống chí đến tay Ngô Giáp Đậu nên ông đã có bài tựa để khẳng định chỉ có Ngô Thì Chí và Ngô Thì Du là tác giả Hoàng Lê nhất thống chí.
Ngô Thì Chí khởi thảo 7 hồi đầu của tác phẩm với mục đích kể lại quá trình Tây Sơn phò Lê diệt Trịnh để hoàn thành cuộc nhất thống. Lễ nhất thống được tổ chức ở điện Kính Thiên vào ngày 7 tháng 7 năm Bính Ngọ 1786. Vua Lê nhận sổ sách quyền bính từ tay Nguyễn Văn Bình (tên của vua Quang Trung sau này trong các bản dịch Hoàng Lê nhất thống chí) và sau đó, khi Nguyễn Văn Bình về Nam, Hữu Chỉnh lại tiếp tục giúp vua Chiêu Thống diệt Án Đô vương Trịnh Bồng để thực sự nắm quyền nhất thống. Bởi vậy, cuộc nhất thống trong 7 hồi đầu tuy vua Lê không trực tiếp đứng ra thực hiện nhưng lại được tiến hành dưới danh nghĩa vua Lê. Cho nên, Ngô Thì Chí đặt cho tác phẩm nhan đề Hoàng Lê nhất thống chí là hoàn toàn hợp lý. Nhưng sau đó, Chiêu Thống không giữ được quyền bính, đã rước quân Thanh vào xâm lược nước ta. Nguyễn Văn Bình ra Bắc lần thứ ba, đuổi người Thanh. Vua Lê bị diệt. Cuộc nhất thống lần này tiến hành không phải dưới danh nghĩa nhà Lê, phò Lê mà, dưới danh nghĩa Hoàng đế Quang Trung của nước An Nam, đánh đuổi ngoại xâm cùng bọn bán nước. Danh nghĩa Hoàng Lê nhất thống chí không còn phù hợp. Đấy là chưa kể việc sau này Tây Sơn thất bại, vua Gia Long làm cuộc thống nhất đất nước. Vì thế, khi hoàn thành tác phẩm, Ngô Thì Du đổi lại tên tác phẩm thành An Nam nhất thống chí. Có lẽ nhan đề An Nam nhất thống chí phù hợp với nội dung tác phẩm hơn. Song, để tôn trọng người khởi thảo văn bản đầu tiên là Ngô Thì Chí nên bấy lâu nay các dịch giả vẫn lấy tên là Hoàng Lê nhất thống chí khiến độc giả tưởng tác phẩm chỉ có một tên duy nhất.
Hoàng Lê nhất thống chí là tiểu thuyết chương hồi, nhưng tác giả lại ghi là thể loại chí (một trong ba lối viết sử của kỷ truyện), tức là mặc nhiên khẳng định là sử không phải là văn. Nguyên nhân nằm ở việc người trung đại xem văn chương tiểu thuyết là thứ mạt hạng, những “chuyện ngoài đường trong ngõ”-nhai đàm hạng ngữ, mà ta “nghe ngoài đường rồi truyền lại ở ngoài đường”-đạo thính đồ thuyết, một thứ chẳng quan thiết gì đến đạo tu, tề, trị, bình của bậc quân tử. Tâm lý này ngự trị khá dai dẳng ở Việt Nam và tới giữa thế kỷ XX mà vẫn hết sức nặng nề. Chẳng hạn, Ngô Tất Tố khi dịch Hoàng Lê nhất thống chí (NXB Văn hóa in lần thứ 2, 1958) vào năm 1942 đã tự ý đổi 17 thiên thành 21 hồi với lý do rất hồn nhiên: “Vì muốn nó khỏi bị liệt vào hàng tiểu thuyết”!
HÀM ĐAN
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận