QĐND - Một chiều hè, tôi bỗng nghe giọng nói Nam Bộ rất nhẹ: Thanh à, anh đang giở sổ cũ lưu ở Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh tìm vẫn chưa thấy tên cha em. Phải kiên nhẫn may ra mới có thể tìm được… Tôi mừng khôn tả khi nghe tiếng anh từ Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Long An. Lại phấp phỏng, hy vọng, lại chắp nối những địa chỉ có thể đến, những cựu chiến binh đã cùng hành quân với cha tôi sống sót trở về sau c
QĐND - Một chiều hè, tôi bỗng nghe giọng nói Nam Bộ rất nhẹ: Thanh à, anh đang giở sổ cũ lưu ở Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh tìm vẫn chưa thấy tên cha em. Phải kiên nhẫn may ra mới có thể tìm được… Tôi mừng khôn tả khi nghe tiếng anh từ Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Long An. Lại phấp phỏng, hy vọng, lại chắp nối những địa chỉ có thể đến, những cựu chiến binh đã cùng hành quân với cha tôi sống sót trở về sau chiến dịch Xuân Mậu Thân 1968. Và đêm đêm, dưới ánh đèn khuya vẫn là những nét chữ quen thuộc của cha mà tôi đọc đi đọc lại hàng trăm lần. Màu mực xanh đen hầu như không phai, từng hàng chữ đẹp, đều đặn, cha tôi tranh thủ viết dọc đường hành quân trên đất nước Triệu Voi.
Qua những dòng thư, tôi hình dung cái Tết đầu tiên các chiến sĩ Đại đội 1, nhà máy dệt xa gia đình thân yêu, xa Hà Nội, ăn Tết ở Nghệ An với bánh chưng xanh, ấm tình đồng bào với câu hò sông Lam sâu thẳm để rồi từ đó bắt đầu cuộc hành quân gian khổ trên con đường Trường Sơn huyền thoại in dấu chân bao chiến sĩ. Cha tôi bước trên con đường thăm thẳm dốc cao, vực sâu với khẩu B40 và ba lô sau lưng mà khát vọng giải phóng miền Nam thống nhất non sông để trở về sum họp gia đình như ngọn lửa cháy rực trong tim: “Vượt Trường Sơn là một thử thách lớn gay go gian khổ, nhiều vách cao vực thẳm, các anh đi trọn ba ngày mới sang tới đất bạn Lào; chỉ thấy núi rừng, muỗi vắt, bữa ăn chỉ toàn rau rừng và đồ hộp mà thôi. Xa em, nhớ thương em vô hạn. Nhưng em yêu ơi, chiến thắng hai miền đang giòn giã, ngày thống nhất không còn xa nữa. Mong em phát huy truyền thống ba đảm đang, thay anh nuôi mẹ già, con nhỏ, chờ anh ngày chiến thắng trở về”. Nhưng… cha tôi và hàng nghìn chiến sĩ của Hà Nội đã không trở về. Các anh nằm trong lòng đất phương Nam, nghe gió sông Tiền, sông Hậu, sông Cần Giờ ời ời thổi suốt bốn mùa. Những ngôi mộ trắng lóa trong các nghĩa trang liệt sĩ. Tôi nghe tiếng người cán bộ xã Phước Lâm (Long An) nằng nặng tiếng miền Đông: Các liệt sĩ miền Bắc hy sinh nơi đây thường không biết tên, chúng tôi cũng đưa vào nghĩa trang liệt sĩ của huyện rồi, 81 mộ chưa biết tên chị à. Chị cứ yên tâm, đã có chúng tôi trong này hương khói cho các ảnh.
Quê nhà, những ngôi mộ của các liệt sĩ họ Phùng, họ Phạm, họ Nguyễn, họ Nghiêm… quây quần trong nghĩa trang, trên cánh đồng xanh mướt ngô non. Tôi thắp hương cho các liệt sĩ, họ xa họ gần, tình làng nghĩa xóm, tất cả đã về đây trong lòng đất mẹ ấm áp. “Giờ phút anh lên đường vào Nam chiến đấu đã đến. Em yêu! Anh lên đường theo tiếng gọi của Tổ quốc non sông và trái tim cộng sản. Nếu vì nhiệm vụ của Đảng mà anh hy sinh thì em hãy bình tĩnh và hãy tự hào vì mình có người chồng hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và Tổ quốc giao cho, góp phần giải phóng miền Nam…”. Cha tôi cũng như bao người lính đã ra đi với niềm tin, niềm tự hào như thế, và họ đã nằm xuống thanh thản, "để lại dáng đứng Việt Nam, tạc vào thế kỷ".
Người về với đất mẹ, linh hồn còn sống mãi với non sông. Các liệt sĩ nằm lại Nghĩa trang Trường Sơn, Bến Dược, Sa Mát… và lòng biển ôm trọn các anh, những người con anh dũng giữ cho quê hương mãi thắm đỏ sắc cờ. Những câu chuyện xưa đã thành huyền thoại của dân tộc anh hùng, những lá thư xưa đã thành báu vật của gia đình và là niềm tự hào truyền cho con cháu. Trong khói hương trầm dâng lên các anh kỷ niệm ngày đại thắng, có giọt nước mắt lặng chảy của mẹ, của chị… và những đôi tay đang lặng lẽ nguyện cầu.
Tản văn của PHẠM KIM THANH
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận