Nhiều trái ngược trong nhận thức về cơ bản được rũ bỏ sau hội thảo khoa học cấp quốc gia “Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX”. Qua hội thảo, nhiều vấn đề lịch sử được xem xét nhìn nhận khách quan trung thực.
![]() |
|
Nhã nhạc cung đình-nét văn hóa tiêu biểu dưới thời nhà Nguyễn được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của thế giới. |
Nhiều trái ngược trong nhận thức về cơ bản được rũ bỏ sau hội thảo khoa học cấp quốc gia “Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX”. Qua hội thảo, nhiều vấn đề lịch sử được xem xét nhìn nhận khách quan trung thực.
Công cuộc mở rộng lãnh thổ bằng di dân, khai phá và chinh phục
Đây có thể coi là một cách khai phá bờ cõi phía Nam tương đối hòa bình của Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn, và các bước chuẩn bị cho cuộc mở rộng này kéo dài 200 năm, từ thời Chúa Nguyễn Hoàng vào Nam trấn thủ xứ Quảng và được kế tục bởi các vua, chúa sau này. Người ta vẫn nhắc tên Huyền Trân Công Chúa thời Lý đã có công giúp Đại Việt có thêm xứ Thuận Hóa, nay có lẽ cũng nên thêm vào danh sách các liệt nữ Đại Việt tên của Công chúa Ngọc Vạn (con gái của Chúa Nguyễn Phúc Nguyên) người được gả cho Vua Chân Lạp-Chey Chettha II. Công chúa Ngọc Vạn với tư cách là Hoàng hậu Chân Lạp trong 11 năm (từ 1618 đến 1629) đã có vai trò quan trọng để nhiều cuộc di dân yên bình của người Việt vào tới tận Đồng bằng sông Cửu Long. Cùng thời điểm này, Chúa Nguyễn Phúc Nguyên với nhiều chính sách ngoại giao hòa bình đã lập được 2 thương điếm là Kas Krobei và Brai Kor trên sông Sài Gòn và Bến Nghé. Đây là cơ sở và cũng là điều kiện cần thiết để xứ Đàng Trong đặt mốc chủ quyền đầu tiên trên vùng đất Nam Bộ.
Ý thức về biển
Giáo sư Vu Hướng Đông, Giám đốc Sở Nghiên cứu Việt Nam-trường đại học Trịnh Châu Trung Quốc trình bày tham luận “Ý thức về biển của vua Minh Mệnh” với 5 ý lớn: Coi trọng thủy quân; các cuộc tìm hiểu châu Á và khu vực; tăng cường phòng ngự khu vực lãnh hải; chế tạo, cải tiến kỹ thuật biển theo cách phương Tây; thờ cúng thần biển. Mặc dù tham luận này của Giáo sư Vu Hướng Đông chỉ giới hạn ở thời Minh Mệnh nhưng không thể không đề cập tới các tiền đề về “ý thức biển” có từ thời Nguyễn Phúc Nguyên hay Gia Long trước đó. Nhiều nhà khoa học Việt Nam cũng góp ý trực tiếp với Giáo sư Vu Hướng Đông về vấn đề này. Ông xin được trả lời trong các công trình nghiên cứu khác.
Ở đây, ta có thể thấy rõ ý thức về biển có từ thời các Chúa Nguyễn. Cụ thể là Chúa Nguyễn Phúc Nguyên. Ngoài việc vẽ bản đồ đường biển, cửa biển, thăm dò các khu vực trọng yếu ven biển, Chúa Nguyễn Phúc Nguyên còn lập ra đội Hoàng Sa và Bắc Hải, điều này đã được ghi rõ trong Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn hay Đại Việt sử ký tục biên của Quốc sử viện thời Lê-Trịnh rồi Toàn tập An Nam lộ của Đỗ Bá Công Đạo. Rõ ràng ý thức về biển của các chúa Nguyễn, vua Nguyễn có từ rất sớm và đây cũng là một trong những hình thức khai phá, di dân được người Việt thường dùng. Đặc biệt dưới thời Minh Mệnh, những cuộc khai phá trên biển không còn dừng ở việc tìm tòi sản vật mà còn thám thính tình hình thế giới, khu vực.
Ý tưởng canh tân
Có đại biểu là một nhà khoa học phương Nam so sánh những cải cách thời Minh Mệnh giống như các cải cách thời Hồng Đức dưới triều Vua Lê Thánh Tông đã nhận được nhiều ý kiến tranh luận sôi nổi. Mặc dù chưa thể so sánh được với những cải cách làm thay đổi toàn diện xã hội như thời Lê nhưng những nỗ lực canh tân đất nước dưới thời Minh Mệnh cũng đáng được ghi nhận, mở ra hướng nghiên cứu cho nhiều học giả.
Bắt đầu từ Chúa Sãi-Nguyễn Phúc Nguyên với những hành động chính trị ngoại giao tạo ra bước ngoặt lịch sử, để rồi nhà Nguyễn dần trở thành một vương triều độc lập với triều đình Lê-Trịnh Đàng Ngoài. Với việc mở rộng các cửa biển, thương cảng, thiết lập quan hệ buôn bán với các nước Đông Á, trong đó đặc biệt có Nhật Bản và Trung Quốc đã tạo ra khu đô thị sầm uất Hội An-nay đã được UNESCO công nhận là Di sản thế giới. Việc coi trọng thương mại của Chúa Nguyễn Phúc Nguyên có thể coi là một cuộc cách mạng trong nhận thức. Như đã biết thời Hồng Đức, những cải cách lớn tạo ra vật lực dồi dào cho xã hội, nhưng Lê Thánh Tông vẫn không coi trọng thương mại. Dưới thời Chúa Nguyễn Phúc Nguyên thương mại đóng một vai trò đặc biệt. Trong lịch sử cũng đã ghi nhận tàu hơi nước (hỏa thuyền) do Việt Nam đóng đã từng chạy trên sông Hương dưới thời Tự Đức, tàu bọc đồng có thể đặt nhiều pháo lớn, nghề chữa đồng hồ (chưa đạt đến trình độ sản xuất), chế thuốc nổ theo kiểu phương Tây, xây dựng đường thiên lý Bắc-Nam để phục vụ thông tin liên lạc và giao thương buôn bán… Tuy nhiên, cái mà nhiều người mong mỏi đã không đến, đó là những cải cách thật sự trong thượng tầng kiến trúc xã hội để tạo ra sức bật mạnh mẽ như Minh Trị (Nhật Bản). Lý do của những hạn chế này cũng được các nhà khoa học nhìn nhận khách quan, đánh giá đúng mức và xác đáng. Lần đầu tiên những mặt hạn chế của triều Nguyễn được đặt trong xu thế lịch sử của thế giới, khu vực với sự bành trướng không ngừng của chủ nghĩa tư bản phương Tây, cũng như ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo đang tồn tại trong ý thức hệ của vua quan triều Nguyễn, hay những ảnh hưởng do ngoại giao với nước lớn và ứng xử trước những xung đột của khu vực… Sự sợ hãi trước cái mới, cái lạ của phương Tây, dẫn đến việc từ chối nhiều đề xuất cải cách của các trí thức Phạm Phú Thứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện… như một tất yếu của lịch sử. Nhưng trong cái tất yếu này, nhà Nguyễn vẫn phải chịu trách nhiệm vì bỏ qua cơ hội canh tân đất nước.
Bài và ảnh: LÊ ĐÔNG HÀ
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận