Thứ Bảy, 08/08/2009, 21:31

    Nơi hoa và đá nở bốn mùa

    Đất đỏ, đỏ như máu. Hoa hồng, trắng li ti, dễ thương. Nhìn thì mềm yếu, vậy mà khi chín, chụm lại thành hình chóp nón, có ba mặt tam giác, thật rắn rỏi, giữ ở giữa một hạt mạch quý...

    Đất đỏ, đỏ như máu. Hoa hồng, trắng li ti, dễ thương. Nhìn thì mềm yếu, vậy mà khi chín, chụm lại thành hình chóp nón, có ba mặt tam giác, thật rắn rỏi, giữ ở giữa một hạt mạch quý. Những tay lá bé bỏng cũng mơ hồ ba góc xanh. Nghe nói, đây là cây thuộc họ ngũ cốc, hạt để làm bánh rất ngon. Còn thân lá có thể nấu lên làm thuốc…

    Là tôi nghe anh Nguyên Bình, một thư ký tòa án làm việc tại huyện Đồng Văn, kể vậy chứ tận mắt chưa nhìn thấy hạt mạch ấy. Còn nghe nói, có người muốn lên Đồng Văn, chỉ để một lần được chụp ảnh cùng tam giác mạch! Tam giác mạch, cái tên không nghe gợi về một loài hoa. Nhưng đó lại là hoa, rất đẹp, trải dài trên đường đất đỏ, đem cho người ta cảm giác hưng phấn sau một cơn mưa rả rích dài ngày. Nhìn thấy hoa là nắng hửng lên. Nắng hửng lên thật hay nắng trong lòng, cũng không biết nữa.

    Trên đường từ thành phố Hà Giang lên cao nguyên Đồng Văn, chúng tôi đã gặp một vài vạt hoa tam giác mạch như thế. Nhưng Nguyên Bình bảo, ở Mã Pì Lèng mới nhiều, có những “con đường hoa” trải dài hàng vài cây số. Chúng tôi nghe những câu chuyện anh kể, về núi, về hoa, về mèn mén, ấu tẩu, lại đứng trong hơi sương mờ mịt, nghe tiếng lục lạc của đàn dê thấp thoáng trên đèo… mà mơ hồ cảm nhận cái quyến rũ không lời của vùng cao nguyên đá. Chắc chắn như vậy rồi, thì mới có những con người như Nguyên Bình, và thân phụ của anh. Cụ ông quê ở Hải Dương, lên đây từ những năm 70 công tác tại huyện Yên Minh, và mãi đến năm 2001 mới về xuôi. Còn Nguyên Bình, anh cũng đã trở thành người của núi từ lúc nào.

    Tôi có một thắc mắc, mùa nào là mùa tam giác mạch nở, bạn trong đoàn người thì bảo mùa này, chớm Hạ. Người thì bảo phải là mùa thu… Nhưng tôi không đem ra hỏi người bạn đường của chúng tôi, vì tôi thầm nghĩ, không thể tưởng tượng Hà Giang không có tam giác mạch nở rộ, hồng trắng tím thân thương. Cũng như không thể tưởng tượng ra Đồng Văn mà không có đá nở hoa trên vách núi. Những phiến đá xoay thành cụm ôm ấp lấy nhau, đen nhánh như than, đầu lại hơi bàng bạc, hệt như những đóa hồng đen khổng lồ… Tôi muốn tin rằng, nơi đây, khi quanh năm mây phủ, thì hoa và đá cũng nở bốn mùa.

    Với tôi, vì rất nhiều điều mà tôi thấy miền núi cao này thật đáng yêu. Vì sương mờ quấn quýt trên đỉnh núi. Vì đường cheo leo lên sao mà khó nhọc, lại có ngay anh Sơn lái xe rất cừ, tay lái lụa, thuộc nằm lòng từng đoạn rẽ gấp, từng ổ gà, vượt đoạn đèo 9 khúc quanh co một cách thiện nghệ, đôi lúc cao hứng còn thả cả hai tay ra lái mới… đại tài. Vì những ngôi nhà có vách đất trình dày khộp, màu vàng nhạt, nhìn vừa quen quen, vừa sờ sợ, vừa thương thương. Vì những mảnh khăn xanh, đỏ thấp thoáng trên triền núi, của những người trỉa bắp. Vì những đàn dê đủng đỉnh đi lại trong sương, với tiếng nhạc chuông lảnh lót. Vì bát canh ấu tẩu ăn cùng cháo thịt buổi đêm, để giã rượu. Rượu ngô chảy miên man trong một đêm vui...

    Rượu ngô ấy, chúng tôi được uống trong một đêm đặc biệt. Đêm lên đến Đồng Văn, chúng tôi được các chiến sĩ đồn biên phòng Đồng Văn tiếp đón nồng nhiệt. Một bữa cơm khách không “lính” chút nào, nhiều món, cả thịt lẫn rau, hẳn các anh đã cố gắng thể hiện lòng hiếu khách, khiến chúng tôi cũng có đôi chút áy náy. Nhất là, tôi được biết, nơi các anh đóng quân nước rất hiếm hoi! Đang dở bữa, có tiếng gió đập cây ồn ồn bên ngoài, một chiến sĩ hớn hở reo: “Mưa, mang thùng ra hứng nước!”. Đại úy đồn trưởng Vàng Đình Chiến, người Mông, có gương mặt rắn rỏi và… nghiêm khắc, kể với chúng tôi về nỗi khổ thiếu nước của anh em. Có những tháng khan nước, phải tiết kiệm, hạn chế cả việc dùng bát đĩa, để khỏi tốn nước rửa nhiều. Nhưng rồi anh lại nói: “Nhưng khổ gì thì khổ, sao bằng đồng bào. Người dân ở đây khổ ngay từ bước chân đi. Sinh ra, lớn lên, sống cả đời ở địa hình không thuận lợi, gió mưa thay đổi thất thường… Mình quê ở huyện Quản Bạ, làm việc ở Đồng Văn. Thương người dân quê mình thế nào, thì thương người dân ở đây thế ấy… Bộ đội luôn gắng sức giúp đỡ dân, từ việc làm xanh sạch môi trường, hỗ trợ làm đường giao thông liên thôn đến các điểm trường, đến việc vận động con em đồng bào dân tộc đi học, quan tâm đến từng gia đình thương bệnh binh, người tàn tật. Mới đây, chúng mình vừa góp công xây dựng hai nhà tình thương cho hai gia đình...”. Nghe anh nói có vẻ rất “chính trị”, nhưng tôi cảm nhận được sự chân thành của lời nói. Tôi nhớ, trước khi lên Hà Giang, có một cô bạn tôi đã từng ở nhiều với người vùng cao, đã nói: “Người Mông kín đáo lắm, nhưng khi đã thể hiện tình cảm, thì rất thật”.

    Lại nói chuyện người lính mang quân hàm xanh gần gũi giúp đỡ bà con từ việc nặng đến việc nhẹ, đến cả việc dạy tiếng Kinh, anh Sơn, người lái xe đưa chúng tôi lên Đồng Văn kể một câu chuyện vui vui. Rằng đến xóm nọ, thấy dân nói tiếng Kinh đặc giọng Nghệ Tĩnh. Hỏi ra mới biết, người kiên trì dạy cho họ là một anh bộ đội quê xứ Nghệ. Từ Nghệ An, Hà Tĩnh lên đến miền cao nguyên này, đường đất xa xôi, nhưng người thì đã gần nhau như thế đấy, nói chung cả thứ tiếng mà, theo cách của nhà thơ Bùi Vợi, thì sinh ra từ đá sỏi đất cằn nên mới nằng nặng, mới sâu đằm yêu thương!

    Càng cuối buổi gặp gỡ, tôi càng thấy rõ là bạn tôi nói đúng. Sau những chén rượu ngô Lũng Táo mềm môi mà cứ tưởng không say, nhưng thực ra lại say rất lâu, say cho đến hôm sau, tỉnh dậy rồi vẫn cứ lâng lâng kỳ lạ, Vàng Đình Chiến bắt đầu cất giọng hát. Giọng anh rất trầm, có những âm sắc đặc biệt, thanh dài và sâu…

    Các chiến sĩ cùng mọi người trong đoàn chúng tôi đều lần lượt hòa giọng ca chung. Bài hát cuối cùng trước khi chia tay là bài “Hát mãi khúc quân hành”. Hát trên miền cao này, khi đời thường đã ở sau lưng, trước mắt là gió và hơi sương, là biên cương trải dài đâu đó trên dãy núi cao kia, tôi thấy mình như khác đi, không còn những suy nghĩ vụn mọn hàng ngày nữa.

    Đêm rằm phố núi, người ta đang chuẩn bị cho lễ hội Phố cổ. Đèn lồng đỏ, khèn, sáo, đàn. Áo váy Tày, Mông, Lôlô… đang xúng xính mặc vào. Những đoàn khách từ 26 tỉnh đã lên đến Đồng Văn, tiếng hỏi han, nói cười xôn xao. Giá mà không cần ngủ, thì có thể sống hết mình với phố cổ Đồng Văn, suốt đêm này!

    Rời Đồng Văn, tôi mua được một chiếc khèn. Một anh con trai người Mông, mặc đồ đen, mũ nồi đen, chọn khèn cho tôi. Nhớ những câu chuyện về bùa ngải người ta kể, tôi không khỏi bật cười, lẩn thẩn nghĩ, nếu biết chắc chiếc khèn này bị bỏ bùa, thì có ai dám ghé môi vào thổi hay không?

    Ghi vội vào trang sổ những vần thơ chợt đến. Tặng cho chiếc khèn Đồng Văn. Tặng cho vùng miền núi xa xôi đã trở nên gần gũi với tôi trong những ngày này. Miền núi cao quanh năm mây phủ, hoa và đá nở bốn mùa!

    Tháng 5-2009

    Tạp văn của THỤY ANH

    phucthang

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...