Thứ Năm, 12/05/2011, 17:56

    Ông Báu ở làng Muội Sảng

    QĐND - Ở làng Muội Sảng mọi người đều nói ông Báu là người “lắm chuyện”. Giải thích về “lắm chuyện” đám trẻ con kháo rằng ông Báu chuyện gì cũng biết. Ông có thể ngày này qua ngày khác, đêm này qua đêm khác kể mọi thứ chuyện cho cả làng nghe. Dạo đó đâu như là năm 1965 hay 1966 gì đó, gia đình tôi sơ tán từ thị xã Hưng Yên về làng Muội Sảng...

    QĐND - Ở làng Muội Sảng mọi người đều nói ông Báu là người “lắm chuyện”. Giải thích về “lắm chuyện” đám trẻ con kháo rằng ông Báu chuyện gì cũng biết. Ông có thể ngày này qua ngày khác, đêm này qua đêm khác kể mọi thứ chuyện cho cả làng nghe. Dạo đó đâu như là năm 1965 hay 1966 gì đó, gia đình tôi sơ tán từ thị xã Hưng Yên về làng Muội Sảng. Gọi là làng nhưng thực ra làng Muội Sảng nhỏ tí tẹo lại nằm cách xa các làng khác trong xã. Nếu trèo lên được ngọn cây đa to uỳnh ngự ở đầu làng sẽ thấy làng Muội Sảng có dáng hình trông như củ ấu. Hồi gia đình tôi mới sơ tán về, u Sa - cách gọi bác chủ nhà của chúng tôi - khẳng định rằng, hình dáng làng thế nên dân làng đều “ngang ngạnh”. Ông Báu người nhỏ thó, da đen sắt nhưng có cặp mắt nhìn ai như xoáy vào khiến như bọn trẻ con chúng tôi dù thích nghe ông kể chuyện nhưng chẳng dám ngẩng mặt lên nhìn. Tối tối cơm nước xong, chúng tôi chạy vòng quanh gốc đa đến mệt nhoài thì ông Báu đi tới. Ông ngồi như pho tượng bên gốc đa, im lặng theo dõi chúng tôi nô đùa. Và khi chúng tôi mệt không thiết chạy nữa, ông mới “e hèm”. Cách hắng giọng đầy ma lực, nó hút chúng tôi lại đứng rúm ró cạnh nhau, mắt sợ sệt, rồi tụm lại ngồi quây quanh ông Báu. Ông Báu đưa tay vỗ vỗ vào đầu tôi nói chắc nịch: “Thằng này đầu tròn xoe, sau này lớn lên chỉ được mẽ oai thôi còn công danh hạng mèng”. Tôi sợ lắm, rụt cổ lại cố giấu cái đầu tròn xoe như ông nói. Bọn trẻ chẳng biết công danh là gì nhưng chúng phỏng đoán chắc là lớn lên sẽ không hơn gì chúng. Hiểu vậy nên bọn trẻ đua nhau cốc cốc vào đầu tôi đau điếng.

    Ông Báu ngồi bên gốc đa bắt đầu kể chuyện. Giọng ông đều đều nghe rợn cả người. Ông hỏi: “Bọn bay muốn nghe chuyện gì?”. Tôi ngồi cạnh ông nên mấy thằng huých tay ý bảo tôi nói, tôi thật thà: “Chuyện Liên Xô ý ông”. Ông Báu từ đó ghét tôi ra mặt. Mãi sau tôi mới hiểu là ông Báu tuy đã ngoài năm mươi nhưng cả đời chưa đi đâu xa khỏi cánh đồng Ngà, nghĩa là ông toàn ở làng. Ngày ông vác cuốc đi quanh mấy cánh ruộng xem nước nôi ra sao, tối ra gốc đa ngồi kể chuyện cho bọn trẻ con nghe. Có lần u Sa bảo: “Năm xưa ông Báu được một người trong làng một lần lên chợ trên tỉnh nhặt được khi còn đỏ hỏn, bà lão hiếm con đem về nuôi, đặt tên là Báu, vì bà cho rằng bà nhặt được vật báu”. Ông Báu lớn lên như thế và cứ như thế không đi đâu xa khỏi làng. Bà lão hiếm con chết để lại cho ông Báu gian nhà nửa lợp rạ, nửa lợp lá chuối. Ông Báu lầm lũi lớn lên nhưng không hỏi được cô nào trong làng làm vợ. Làng Muội Sảng tuy bé tí tẹo nhưng làng vẫn là làng, nghĩa là “không ai dại gả con cho cái thằng nhặt cha căng chú kiết”. Thế là dù đã gần năm mươi nhưng ông Báu vẫn còn là anh Báu chưa biết mùi đời là gì.

    Tối hôm đó chúng tôi ngồi túm tụm bên gốc đa nghe ông Báu kể chuyện. Ở làng này, nếu không có lũ trẻ con chúng tôi, chắc tối đến, ông Báu lại rúc đầu vào gian nhà lợp nửa rạ nửa lá chuối mà ngủ. Từ hôm tôi đòi kể chuyện Liên Xô, ông Báu không cho ngồi gần nữa. Tôi lại thấy thích vì tránh được đôi mắt như xoáy của ông, nhất là vào tối đó ánh trăng lọt qua đám lá rọi xuống màu xanh lành lạnh. Ông hỏi to: “Bọn mày hôm nay muốn nghe chuyện gì?”. Thằng cu Tĩnh vốn yếu bóng vía trả lời thẽ thọt: “Ông đừng kể chuyện ma”. Ông Báu cười: “Làm gì có ma. Có mà ma người. Người khỏe đè người yếu, người lớn lấn át người trẻ. Như bọn chúng mày ấy, thằng lớn hay bắt nạt thằng bé”. Thằng cu Tĩnh cười phởn nói đế vào: “Bọn mày thấy chưa, ma đâu có, cứ dọa tao”. Ông Báu lại vỗ vỗ bàn tay vào đầu thằng cu Tĩnh nói: “Đầu thằng này bẹt, lớn lên khôn phải biết”. Tôi hôm đó, ông Báu kể chuyện bộ đội ta đào hầm ngầm luồn bộc phá vào cho nổ tung đồi A1 ở Điện Biên Phủ. Tôi nghe xong láu táu hỏi: “Thế bộ đội ta có kịp chui ra ngoài không?”. Thằng cu Tĩnh quay lại cười chế nhạo: “Mày ngu bỏ mẹ. Đào xong thì phải chui ra chứ”. Ông Báu nói: “Tao có ở đó đâu mà biết. Chắc là phải chui ra thôi”. Thằng cu Tĩnh khoái chí ra mặt vì nó còn biết hơn cả ông Báu.

    Đó là những tối mùa hè, trời lại có trăng. Đến mùa đông, bọn trẻ chúng tôi nhớ chuyện của ông Báu rủ nhau đến gian nhà của ông Báu. Chừng gần chục đứa trẻ con ngồi chen chúc trên đống lá chuối khô đã được ông Báu xếp thành từng lớp trải đều dưới đất. Bên ngoài gió rít qua tấm phên dựng làm cửa nghe rèn rẹt, ông Báu cười: “Bọn mày thấy có ấm không? Tao toàn nằm trên lá chuối khô mà ngủ”. Chúng tôi gật gật đầu xác nhận ấm thật, ông Báu nói tiếp: “Lá chuối khô nằm không rặm như trải rơm lại được cái có mùi thơm”. Chúng tôi thi nhau cúi xuống hít hít. Mùi là chuối khô thơm thật, nó có vị như ai đó vừa thả thêm chút gạo rang vừa chín tới, thơm ngầy ngậy. Ông Báu lại hỏi: “Thích nghe chuyện cổ tích không?”. Tôi buột mồm: “Chuyện cổ tích thì làm gì có thật”. Thằng cu Tĩnh cũng chen vào: “Chuyện cổ tích nghe mãi, chán lắm”. Ông Báu giọng đanh lại: “Bọn mày bao giờ mới khôn được. Chuyện cổ tích là chuyện thật nhưng là chuyện ngày xưa thôi”. Tôi không chịu, cãi lại: “Vì chuyện cổ tích toàn thấy người nghèo bị thiệt thòi thôi”. Ông Báu nói luôn: “Thì tao bảo rồi. Con người hay bắt nạt nhau. Kẻ mạnh đè nén người yếu” rồi ông trầm giọng xuống: “Người nghèo thì có gì để mà lên mặt được với kẻ giàu”. Mấy đứa trẻ khác không biết chờ đợi nhao nhao: “Ông kể cổ tích cũng được”. Câu chuyện ông Báu kể thì ai mà chả biết: Lý Thông thì cướp công Thạch Sanh. Mụ dì ghẻ hay bắt tội con chồng. Người anh tham lam lấy hết gia tài bố mẹ để lại... Toàn chuyện những người hiền lành mà bị thua thiệt. Ông Báu nói: “Làm người khó lắm. Tao đây này, cả đời có dám đi đâu ra khỏi làng. Ngộ nhỡ ra khỏi làng người ta hỏi cha mẹ là ai mình ăn nói thế nào?”. Tối hôm đó, tôi thấy ông Báu lần đầu tiên buồn buồn, ông đuổi bọn tôi về rồi ngả mình nằm xuống đám lá chuối khô.

    Dạo đó cả nước lên đường đánh Mỹ, làng Muội Sảng cũng vậy, trai tráng ra trận cả. Ông Báu trở thành người đàn ông mạnh khỏe duy nhất ở lại làng. Tôi nhớ hôm máy bay Mỹ bay qua, thằng phi công không hiểu sao lại thả xuống xã Hùng Cường bên cạnh làng Muội Sảng hai quả bom. Cả xã ấy nháo nhác cả lên, tiếng kêu khóc nghe nẫu cả ruột. Ông Báu vác cuốc chạy sang hét rõ to: “Khóc lóc thì tích sự gì. Mau tìm cách cứu người”. Cứ thế ông Báu dùng cuốc đào bới, ông lôi được mấy người bị kẹt trong nhà sập ra. Ông trở thành anh hùng trong mắt bọn trẻ con chúng tôi từ hôm đó. Người làng Muội Sảng thì bảo: “Tay Báu đúng là báu thật, cứu người xã khác như cứu người làng mình”. Bọn chúng tôi ngồi xúm xít quanh ông Báu hỏi: “Những người dũng cảm không cần phải to lớn phải không ạ?”. Ông Báu cười, lần đầu tôi thấy ông cười hồn nhiên, ánh mắt không còn thấy sắc lẹm nữa, ông nói: “Kẻ to xác đâu đã mạnh, người nhỏ bé nếu biết nghĩ đến người khác cũng có thể làm được việc lớn”. Làng Muội Sảng thưa dần chuyện coi ông Báu là loại con rơi con nhặt. Ông Báu giờ thêm chân trực chiến cho làng, nghĩa là khi nào có máy bay Mỹ bay qua ông lấy bàn tay che ngang vầng trán, đầu từ từ quay theo hướng máy bay, miệng lẩm nhẩm: “Nó sợ mình nên chạy thẳng rồi”.

    Nhiều bữa tôi thấy ông Báu đứng cạnh chỗ cô Mận bán mía ở chân gốc đa. Cô Mận đã bốn mươi tuổi, chưa chồng, béo ục ịch, mái tóc lúc nào cũng như ướt. Cô bán mía từ hôm xã Hùng Cường vào vụ chặt mía ngoài bãi. Ông Báu lân la bên cạnh cô Mận cả ngày, có khi còn giúp cô Mận chặt mía thành từng khúc rồi bó lại. Dạo trước ông Báu lại gần thì đã bị cô Mận đuổi đi, cô nói: “Ông xúi lắm, đứng đây ám người ta thì hàng họ ế cả à?”. Nhưng giờ có ông bên cạnh cô Mận không đuổi nữa, cô thi thoảng liếc ông Báu cười: “Tưởng báu lắm!”. Ông Báu cười nhăn nhăn: “Thì tớ chính là Báu đây. Này tớ hỏi thật nhé...”, ông chưa nói hết câu cô Mận đã trả lời: “Bỏ cái nhà lợp lá chuối đi. Dọn sang đây cho ở nhờ”. Tối hôm đó như mọi bữa bọn trẻ con chúng tôi lại tụ tập ở nhà ông Báu đòi kể chuyện, ông Báu bảo: “Chuyện cổ tích nhé?”. Chúng tôi thi nhau đáp: “Không, chuyện của ông với cô Mận cơ”. Ông Báu “e hèm” rồi thong thả nói bằng cái giọng của người đàn ông từng trải: “Đời nó hay lắm, may là còn có ông trời. Ông trời luôn công bằng với mọi người, ông trời chỉ cho hưởng trước hay hưởng sau thôi chứ ông trời không để cho ai thiệt”. Chúng tôi nhao nhao: “Ông trời chưa tốt. Ông trời để cho ông Báu khổ lâu quá!”. Ông Báu vơ lấy cái gậy chống cửa đuổi bọn chúng tôi chạy tán loạn, bỏ lại những tiếng cười khích khích.

    Truyện ngắn của Trọng Nguyễn 

    vuhuyen

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...