Tại sao nói cán bộ về “tuyển quân”, không nói là “tuyển ngũ”. Nhưng lại nói là “nhập ngũ”, không nói là “nhập quân”? Chúng ta hãy bắt đầu từ “tuyển quân”. Đây là một từ Việt gốc Hán. Tuyển là lựa chọn, quân là lính. Tuyển quân là lựa chọn người đưa vào quân đội.
Tại sao nói cán bộ về “tuyển quân”, không nói là “tuyển ngũ”. Nhưng lại nói là “nhập ngũ”, không nói là “nhập quân”?
Chúng ta hãy bắt đầu từ “tuyển quân”. Đây là một từ Việt gốc Hán. Tuyển là lựa chọn, quân là lính. Tuyển quân là lựa chọn người đưa vào quân đội. Thế tại sao không nói là tuyển binh, dù trong tiếng Hán, binh cũng là lính? Chỗ này cần tìm hiểu một chút về góc độ văn hóa quân sự mới thấy hết nghĩa của từ quân. Như vừa nói, “quân” chỉ một nghĩa cụ thể là người lính. Nhưng nó còn có hai nghĩa khái quát hơn. Thứ nhất là chỉ chung về việc đấu tranh vũ trang, việc tiến hành chiến tranh, như quân sự. Thứ hai là chỉ phiên chế cơ bản của quân đội mà ngày nay hiểu là trung đoàn. Điều này ít người biết rõ. Trong tất cả mọi quân đội trên thế giới, từ cuối thế kỷ XVIII trở về trước, phiên chế hành chính cao nhất chỉ là trung đoàn. Ở Pháp là régiment, ở Anh là regiment, ở Nga là polk, ở Trung Quốc và Việt Nam là quân. Từ sau Đại Cách mạng tư sản Pháp, năm 1789, mới xuất hiện sư đoàn rồi quân đoàn. Còn phiên chế hành chính thấp nhất là tiểu đội, gọi chung là đội. Vì thế, ngày nay ở Trung Quốc và Việt Nam, để chỉ công cụ bạo lực của nhà nước, người ta dùng từ quân đội. Đó là một biểu tượng theo cách nói khái quát, từ phiên chế cao nhất là trung đoàn, quân, đến phiên chế thấp nhất là tiểu đội, đội. Với cách hiểu như thế, tuyển quân còn mang theo một ý nghĩa là các cơ quan quân sự thay mặt nhà nước và quân đội, đi lựa chọn người làm thành viên.
Bây giờ chúng ta chuyển sang từ “nhập ngũ”. Nhập ngũ là nhiệm vụ của từng cá nhân, với tư cách là nam công dân, đến tuổi trưởng thành. Đây cũng là một từ Việt gốc Hán. Về nghĩa đen, nhập là vào nhưng ngũ lại không phải là “con số 5” như mọi người vẫn hiểu. Vì nếu nghĩa “nhập ngũ” là “vào con số 5” thì vô nghĩa. Vậy nên hiểu như thế nào? Trong tiếng Hán có hai từ “ngũ”. Từ ngũ thứ nhất là “con số 5”, dùng để đếm như ngũ giác (5 giác quan của cơ thể người: thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác); ngũ vị (5 mùi vị: mặn, ngọt, chua, cay, đắng); ngũ sắc (5 màu: xanh, đỏ, vàng, trắng, đen)… Từ ngũ thứ hai là 5 người, chỉ phiên chế bộ binh nhỏ nhất của quân đội, đã hình thành từ rất xa xưa. Vì vậy “nhập ngũ”, hiểu theo nghĩa cụ thể, là “vào một tổ chức 5 người”, tức là vào tiểu đội, mặc dù quân số của tiểu đội bộ binh bây giờ đã được nâng lên từ 10 đến 12 người, nhưng quân số “5 người” từ xa xưa đã trở thành một biểu tượng về tiểu đội qua mọi thời gian, mọi không gian. Tại sao lại nói người thanh niên gia nhập quân đội là “vào tiểu đội”? Bởi lẽ, mối liên quan khi người công dân trở thành người lính vào thời điểm được tiếp nhận đầu tiên chỉ thu gọn trong phạm vi tiểu đội. Đó là một không gian hoạt động hẹp của người lính, vì người lính là người trong quân đội nhưng ở cấp thấp nhất, không phải cấp chỉ huy, đặc biệt là những người lính mới. Từ đó, đã có một loạt từ có mặt từ “ngũ”. Chẳng hạn, người thanh niên bắt đầu vào quân đội là nhập ngũ, như vừa nói. Thời gian người thanh niên công tác trong quân đội là tại ngũ. Hết niên hạn, người thanh niên trở về đời sống thường ngày là giải ngũ. Sau khi giải ngũ, người thanh niên được lệnh quay lại phục vụ quân đội là tái ngũ. Người quân nhân chuyển ra ngoài quân đội, nói chung là giải ngũ. Nhưng công việc này lại diễn ra theo những kiểu cách khác nhau. Kiểu cách hay nhất, hoàn thành tốt nhiệm vụ là xuất ngũ, không hoàn thành nhiệm vụ là thoái ngũ. Trường hợp rời bỏ quân đội, không có lý do chính đáng là đào ngũ. Trong 30 năm chiến tranh giải phóng vừa qua, chúng ta vận động hàng loạt binh lính ngụy mang súng trở về với nhân dân, làm tan vỡ từng mảng hàng ngũ ngụy quân gọi là rã ngũ.
Nói như vậy, không phải “ngũ” chỉ dùng cho nghĩa cụ thể mà đồng thời cũng mang theo cả nghĩa trừu tượng, khái quát của những biểu tượng. Rõ ràng, tất cả những cặp từ vừa nêu, “ngũ” đều có giá trị như một mẫu số chung và đều hàm ý chỉ quân đội như “vào quân đội, công tác trong quân đội, rời quân đội-có lý do hoặc không có lý do-quay lại quân đội”... Theo cách thức đó, còn có những cặp từ khác như đội ngũ (kỷ luật chặt chẽ), hàng ngũ (hàng lối chỉnh tề), quân ngũ (trong tổ chức quân đội)…
DƯƠNG XUÂN ĐỐNG
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận