QĐND - Mới đây, Hội Nhà văn Hà Nội và NXB Kim Đồng đã tổ chức kỷ niệm 70 năm ra đời tác phẩm thiếu nhi kinh điển “Dế mèn phiêu lưu ký” của nhà văn Tô Hoài. Sự vinh danh cho một tác phẩm văn học hiện đại là khá hiếm nhưng với trường hợp “Dế mèn phiêu lưu ký” quả xứng đáng...
QĐND - Mới đây, Hội Nhà văn Hà Nội và NXB Kim Đồng đã tổ chức kỷ niệm 70 năm ra đời tác phẩm thiếu nhi kinh điển “Dế mèn phiêu lưu ký” của nhà văn Tô Hoài. Sự vinh danh cho một tác phẩm văn học hiện đại là khá hiếm nhưng với trường hợp “Dế mèn phiêu lưu ký” quả xứng đáng.
“Dế mèn phiêu lưu ký” là dấu ấn quan trọng nhất trong sự nghiệp của Tô Hoài. Nói đến Tô Hoài, ai ai cũng biết ông là “cha đẻ” chú dế mèn dù ông đã viết hơn 150 tác phẩm, trong đó không thiếu những tác phẩm xuất sắc như: “Giăng thề”, “Cỏ dại”, “Truyện Tây Bắc”, “Cát bụi chân ai”, “Giấc mộng ông thợ dìu”... “Dế mèn phiêu lưu ký” không chỉ là “người bạn” của nhiều thế hệ độc giả Việt Nam trong suốt 70 năm qua mà còn quen thuộc với bạn đọc nhí toàn cầu khi đã được dịch ra gần 40 thứ tiếng.
Do ảnh hưởng của Nho giáo, nhà văn ở ta thường quan niệm tác phẩm văn học là một thứ gì đó rất ghê gớm, như là công cụ để truyền tải các chân lý nhằm giáo huấn “tiểu nhân”, bênh vực kẻ thấp hèn... Tóm lại là nuôi tham vọng muốn tác phẩm văn học là “vũ khí” tinh thần tác động tới xã hội. Sự kỳ vọng quá mức khiến tác phẩm khó hay như việc bắt con lừa chở quá nhiều hàng hóa khiến nó không thể cất bước. Vì thế, những đề tài to lớn, “đại tự sự” thường được nhà văn ở ta ưu tiên viết, chứ không mấy ai lựa chọn ngay từ đầu là sẽ viết về đề tài thiếu nhi vì cho nó là nhỏ nhặt, như chuyện bọn “trẻ con”. Năm xưa, ngay cả Tô Hoài để đời bởi “Dế mèn phiêu lưu ký” đã bị một đàn anh ngụ ý coi thường khi gọi ông là tác giả của mấy tác phẩm viết về giun dế!
Những người coi thường văn học thiếu nhi đã quên đi điều sơ đẳng (nhưng quan trọng nhất) là để có một tác phẩm văn học hay là phải kể chuyện như thế nào, chứ không phải là kể về cái gì. Nghĩa là một cây bút trẻ tuổi nghề cứ an tâm viết điều mình quen thuộc nhất, tâm đắc nhất; chứ đừng quá chú ý đến hiệu quả tác phẩm. Lý luận văn học hậu hiện đại nói đến “cái chết của tác giả”, nghĩa là một khi được xuất bản, ý nghĩa tác phẩm được diễn giải thuộc về người đọc chứ không còn là của tác giả nữa.
Hãy lấy ví dụ từ “Dế mèn phiêu lưu ký” để thấy rõ Tô Hoài có lẽ vô thức đã thực hành đúng như những gì mà lý luận văn học tân tiến định hướng. Tô Hoài viết “Dế mèn phiêu lưu ký” là từ đơn đặt hàng của Vũ Đình Long-ông chủ NXB Tân Dân; và ông chọn những gì thân thuộc của đứa trẻ ở ngoại ô Hà Nội trước 1945. Khi chất liệu văn học đã nằm lòng, viết sẽ dễ hơn ở chỗ không chỉ có chi tiết sinh động mà tâm tư tình cảm người viết đương nhiên sẽ dâng trào, thuận lợi cho sáng tạo.
Tô Hoài từng tâm sự, ông viết “Dế mèn phiêu lưu ký” trong bối cảnh chủ nghĩa phát xít đang ở thế thượng phong và ông suy nghĩ rằng các dân tộc phải có tình bằng hữu mới ngăn chặn được bọn phát xít-đại diện cho cái ác, cái xấu. Nếu gạt bỏ bối cảnh chính trị-xã hội 70 năm trước, người đọc trước hết cảm nhận đây là câu chuyện hay về loài vật và phần nào vẫn hiểu được thông điệp của tác giả. Chính nhờ cách kể chuyện tự nhiên như không, nhân cách hóa loài vật tài tình và viết truyện bằng suy nghĩ của những đứa trẻ nên Tô Hoài đã truyền tải thông điệp một cách “êm đềm” vào suy tư độc giả.
70 năm đã trôi qua nhưng giá trị nghệ thuật và giáo dục của “Dế mèn phiêu lưu ký” vẫn chưa hề phai mờ. Nếu ai đó đọc một số truyện thiếu nhi nước ngoài sử dụng nhân vật chính là các loài vật sẽ thấy chẳng hay ho hơn “Dế mèn phiêu lưu ký” chút nào. Để có thể có một tác phẩm văn học thiếu nhi đạt đỉnh như “Dế mèn phiêu lưu ký” hay rộng ra là tác phẩm văn học nói chung, có lẽ các nhà văn cần có nhận thức (hoặc đôi khi là sự vô thức) về thực chất công việc mình là kể một câu chuyện hay.
HOÀNG BÌNH PHƯƠNG
Ông đồ
Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tầu giấy đỏ
Bên phố đông người qua.
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
“Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay”.
Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu?
Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu...
Ông đồ vẫn ngồi đấy
Qua đường không ai hay
Lá vàng rơi trên giấy;
Ngoài giời mưa bụi bay.
Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?
VŨ ĐÌNH LIÊN
Lời bình
1. Xã hội Việt Nam “muôn năm cũ” vốn là một xã hội Nho giáo. Vì vậy mà sự học cũng đã ngàn năm học theo một lối trường ốc, khoa cử Nho giáo đó. Thầy trò dạy và học qua chữ Hán, sau có chữ Hán – Nôm, với các lối viết chữ triện, khải, lệ, chân, thảo… được viết bằng thứ mực mài ra từ thanh mực, nước mức màu đen, bóng, có độ bền cao, gọi là mực Tầu, viết trên các loại giấy bản, giấy điều, hoa tiên, bút viết thì dùng bút lông lấy từ các loại lông thỏ, lông điểu, lông đuôi ngựa v.v.. Sự học là rất vinh hoa, cao sang. Tiến vi quan, thoái vi sư! Làm sư, gọi là thày đồ. Khỏi cần nói tới bậc danh Nho như tiến sỹ, trạng nguyên, các thày tú, thầy cử hằng được nhân dân tôn sùng, lễ nghĩa cung kính, trọng hậu lắm… Khảo lược vậy để thấy từ cơ sở chữ nghĩa, phép tắc đến mục đích, và phương pháp, phương tiện dạy và học, với các học cụ giấy, chữ, bút, mực đó mà nên lẽ thịnh suy các triều đại và tưởng đã muôn đời. Ấy vậy rồi trong một đoạn ngày, ngỡ thoáng cái thôi, với bút sắc, mực xanh, giấy kẻ ca rô, phê đúp và đặc biệt là phương pháp sư phạm mới, cùng các môn khoa học tự nhiên, chúng như một đội quân có sức mạnh phi thường, trong không gian thơ Ông đồ dường chúng còn được sức hòa điệu của khí hậu, đất trời với những “lá vàng rơi”, “mưa bụi bay” ngùi ngụi kéo về làm biến đổi hoàn toàn bộ mặt xã hội, khiến những “giấy điều, mực Tầu, chữ nho, ông đồ”, cả hệ thống giáo dục ngàn xưa chốc đã tàn phai. Thật kinh hoàng! Dĩ nhiên, giá trị cũ với “mực Tầu giấy đỏ” kia đã bấy lâu tri kỷ, hằng được thờ phụng, hương khói như một cõi hồn, nền tri thức khoa bảng, nay phải chia lìa thì tránh sao được ngậm ngùi, tiếc nhớ. Thế mới nên thơ nhằm bày tỏ niềm cảm khái, lẽ mất còn.
Cuộc chuyển đổi thái độ văn hóa, sự học trong quy luật vận động xã hội, là hợp tự nhiên thôi. Nhân vật trữ tình chủ đạo xuất hiện trong không gian thơ, là tác giả, người sắm vai kể câu chuyện văn hóa – sử, thông qua hình ảnh Ông đồ. Và các mẫu nhân vật này đều xuất hiện với vẻ u hoài, xa vắng, duy chỉ có “hoa đào” nở vẫn mang vẻ màu và thông điệp về thời gian như vốn có, không thay đổi: “Mỗi năm hoa đào nở” và, “Năm nay đào lại nở”. Hình thái của 2 câu thơ gợi nhớ tới ý thơ Thôi Hộ, Nguyễn Du: “Đào hoa y cựu tiếu đông phong” – “Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông”. Thơ ấy lấy “hoa đào”, một vẻ hình thiên nhiên, lẽ thường là bất biến để phản ảnh về hiện thực đời sống xã hội con người với lẽ thuận, nghịch và luôn phải chịu sự biến đổi, chuyển hóa.
2. Thơ được viết ở thể ngũ ngôn. Trong khoa cử trường thi xưa hai thể thơ thường được dùng nhiều nhất là ngũ ngôn và thất ngôn. Nhịp điệu của ngũ ngôn vốn khi cần thì dễ vận động nhanh, hoạt, lúc cảm xúc thơ lắng lại, sầu thương thì nhịp chuyển của ngũ ngôn cũng đáp ứng được. Thơ thất ngôn gặp hạn chế hơn khi cần chuyển nhịp nhanh, hoạt.
Cảm thức trong thơ Ông đồ nghiêng về hoài niệm, sầu miên nhưng khi tả về thời vàng son của ông đồ, Nho học: “Bao nhiêu người thuê viết/ Tấm tắc ngợi khen tài/ Hoa tay thảo những nét/ Như phượng múa rồng bay” thì nhịp 5/5 này mang hình sắc thơ bay lên phơi phới. Rất đẹp! Còn trong cảm thức sầu thương: “Giấy đỏ buồn/ không thắm/ Mực đọng/ trong nghiên sầu” thì chỉ với thao tác bẻ gãy đôi câu thơ ra, lập tức nhịp thơ đã chuyển chậm lại, gây cảm nhận đứt quãng, trắc trở, thật phù hợp với tình sầu thương, tiếc nuối.
Phép chia bố cục bài thơ thành 5 khổ, mỗi khổ 4 câu, kết cấu hình ảnh của thơ được phân nhịp nhàng, rõ ràng như sự phân cảnh của sân khấu điện ảnh. Ở khổ đầu và khổ kết bài, câu thơ 1 đều dành tả về tiết xuân “hoa đào nở”, câu 2, 3, 4 nhằm kể về “người – ông đồ, người thuê viết và người của muôn năm cũ”, màu sắc tình cảm thì khác biệt nhau. Ở 3 khổ thân bài, lại thấy sự phân chia khác. 2 câu trên của mỗi khổ dành tả về “người” còn 2 câu dưới tả về “vật”, vật mang cái “tình” của “người” thấm qua: Giấy đỏ, nghiên mực, lá vàng rơi, mưa bụi bay.
Tiến trình diễn cảm khởi từ nét chữ, màu giấy: “Bày mực tầu giấy đỏ”, và, “Hoa tay thảo những nét/ Như phượng múa rồng bay” tới tâm sự, cảnh sự: “Giấy đỏ buồn không thắm/ Mực đọng trong nghiên sầu”, và, “Lá vàng rơi trên giấy/ Ngoài trời mưa bụi bay”, là cả một tiến trình vận động nhân sinh, giầu tâm sự của con người trong chiều dài lịch sử văn hóa dân tộc.
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?
Hai câu kết thật mênh mang xao động, ẩn ức, thấm thía. Và cũng qua đây cho thấy, không gian nghệ thuật của Ông đồ chỉ hạn định trong quãng tiết trời xuân “hoa đào nở”, ở ngày Tết với thú chơi chữ, câu đối; còn thời gian được thể hiện thì không chỉ hạn định trong quãng tiết xuân, ngày Tết mà thời gian nghệ thuật còn đặt ra, truy bức vào thăm thẳm, vô cùng tận của những kiếp người ở cõi thế gian này: “Những người muôn năm cũ”…
Với bút pháp tả thực, lời thơ rất mực bình dị, giản lược, không một chữ nào tỏ ra hào nhoáng. Thơ ấy hóa thân làm một biểu tượng văn hóa cho những tàn phai. Ông đồ, bởi vậy đã thành một hình tượng nghệ thuật của thời đại đã qua. Thật xuất sắc!
ĐỖ TRỌNG KHƠI
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận