Thứ Sáu, 25/12/2009, 13:12

    Quang Hoài và tập thơ thứ sáu

    Nhận định về thơ Quang Hoài, nhà thơ Trần Đăng Khoa viết: “Có thể nói đó chính là những bức tranh được vẽ bằng hồn. Chúng đang lặng lẽ nói về Quang Hoài, giúp ta nhìn thấy anh, nhận ra gương mặt rất riêng của anh giữa ngổn ngang bóng người nơi trần thế...

    Nhận định về thơ Quang Hoài, nhà thơ Trần Đăng Khoa viết: “Có thể nói đó chính là những bức tranh được vẽ bằng hồn. Chúng đang lặng lẽ nói về Quang Hoài, giúp ta nhìn thấy anh, nhận ra gương mặt rất riêng của anh giữa ngổn ngang bóng người nơi trần thế (…). Nhà thơ Trần Đăng Khoa còn cho biết, Quang Hoài “là tác giả của 6 tập thơ dày dặn, có tập dày đến mấy trăm trang. Anh còn có mặt trong nhiều tập tuyển đủ các chủng loại, từ Trung ương xuống các địa phương.

    Đối với Quang Hoài, thể thơ lục bát tình tứ được truyền dẫn hơi thở của truyền thống dân dã - khởi nguồn và hưng vượng nền văn học dân gian - là nền tảng, cội rễ khởi hứng những thi tứ của anh: Thôn Đồng em có về không/ Để anh chín đợi mười trông mỏi mòn/ Hiên nhà cau đã đẫy buồng/ Chái nhà trầu đã vàng giàn ngóng trông/ Chẳng thà cách núi cách sông/ Lẽ nào cách một quãng đồng mà xa?... (Thôn Đồng em có về không?).

    Dù vậy, với tập thơ mới đây nhất, Quang Hoài đã tạo ra nhiều mảng khối trên nguồn cảm hứng khác. “Tản mạn chiều Bản Giốc”, là một bài thơ ngắn nhưng mang nhịp điệu và hơi thở của trường ca, của nền khí nhạc giao hưởng: Ta đến đây khi mặt trời gác núi/ Bầy quạ vừa bay qua/ Tiếng còn vọng rừng thâm u/ Trắng chiều lung linh thác đổ/ Ta nghe nước xối gào những bình minh khép mở/ Đàn chim Lạc về đây thắp lửa/ Ánh lửa bừng lên đêm mông muội đầu ghềnh/ Bên thác trắng ngang tàng bất tử…

    Trong cái hơi thở trầm hùng, mạch thơ chảy xiết dội lên tiếng âm vang của truyền thống Lạc Hồng trong huyết mạch của đương đại: Bản Giốc… Bản Giốc… Ơi! Bản Giốc ngàn năm/ Rừng vẫn non xanh kề triền cỏ úa vàng/ Nước vẫn trắng ngần ba dải ào ào đổ thác/ Thành mạch nguồn tưới mát đất Văn Lang. (…) Có phải nước từ chiều dài lịch sử bốn ngàn năm/ Cho anh và em hôm nay dòng thác hồn người/ Thác Bản Giốc, dốc về nguồn cội/ Từ thác này thẳng tới tương lai?...(…) Ơi! Bản Giốc… Bản Giốc/ Ta lặng nhìn mảng bè bập bềnh mặt nước/ Chiều biên cương lạnh buốt/ Rưng rưng đọc câu thơ người xưa:/ “ quốc sơn hà đế cư”! (Tản mạn chiều Bản Giốc).

    Từ thác Bản Giốc của Cao Bằng, Quang Hoài tiếp tục khởi hứng về sông Thao. Về với sông Thao của Quang Hoài, là về với bóng dáng của “một mĩ nhân” một “yểu điệu thục nữ” khuất sau bờ lau sậy nơi “hoàng hôn khép lối”. Tưởng vọng Thi tiên Lý Bạch, Quang Hoài đã dụng công dụng chữ thật công phu, đọc thoáng qua cứ ngỡ Quang Hoài dịch thơ Lý Bạch bằng vần điệu thơ lục bát: Người ngồi chuốc rượu dưới hoa/ Cùng Trăng với Bóng kết ba bạn đời/ Trăng nào chạm được chén mời/ Bóng nào cạn được cùng Người… Người ơi!/ Chén sầu uống mãi chẳng vơi/ Nỗi đau nhân thế ai người sẻ chia?/ Rượu hay nước mắt đầm đìa/ từng chén hẹn về sông Ngân! (Với Lý Bạch).

    Quang Hoài viết tặng nhà thơ đồng hương Trúc Thông, tác giả của “Chầm chậm tới mình” và “Maraton”, một nhà thơ trọn đời dâng hiến cho công cuộc cách tân thơ ca. Câu chuyện tâm tình giao cảm rất đáng lưu ý ở bài thơ, là tác giả đọc thơ của nhà thơ đó cho chính nhà thơ đó nghe, từ những hình ảnh của hiện tại như luồng gió lạ đẩy mối suy tưởng về vùng đất Sơn Nam với những kỉ niệm thuở thiếu thời của sông Châu, núi Đọi: Tôi đọc thơ Trúc Thông/ anh nghe như chìm trong bia lạnh/ hai em gái ngồi bên rót mời…/ “Bờ sông vẫn gió” cánh thơ bay (…) giọt nắng cuối cùng hoàng hôn Hà Đông/ đậu trên mí mắt Trúc Thông/ như là giọt lệ! (…)/ Mẹ ơi! Mẹ ơi!/ người thơ ngồi đấy, con ngồi đấy (…) gió và gió - Mẹ ơi, có thấy/ “lá ngô lay ở bờ sông”/ con và Trúc Thông/ đang về quê mình/ đang về sông Châu núi Đọi. (Tôi đọc thơ Trúc Thông cho anh nghe).

    Trong một bài thơ lục bát khác, tác giả không dừng lại ở tình duyên, mà bài thơ được nâng lên thành mối cảm hoài trước cõi đời mênh mang trong vũ trụ vô cùng vô tận, nó mang tinh thần của “bạch vân thiên tải không du du”: Lẻ đêm trăng chếch song soi/ Lẻ ngày trời ngả giại phơi mãn chiều/ Mõ khua trăng rụng cuối đèo/ Chuông buông trời lặn… đèn leo lét dầu/ Mang mang mây trắng trên đầu/ Ta tìm đâu gọi người đâu bây giờ?/ Cõi người đốm lửa hư vô/ Rạc rài tiếng cuốc dồn xô… rạc rài!

    Để khép lại bài viết, tôi xin dẫn lời của nhà thơ Trần Đăng Khoa viết về thơ Quang Hoài: “… Thơ Quang Hoài - một loại rượu đặc sản của riêng anh sẽ chinh phục được độc giả, làm say lòng độc giả mà không cần tôi phải quảng bá, vân vi. Tôi tin thế. Và rất mong như thế!”.

    Hà Đông, tháng 7-2009

    DƯƠNG KIỀU MINH

    xuandung

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...