Chiếu dời đô là một áng thiên cổ hùng văn, trước hết ở tầm nhìn và sự quyết đoán của một bậc minh quân...
![]() |
| Bản Chiếu dời đô bằng gốm đặt tại Đền Đô, Bắc Ninh. Ảnh: HNM |
Chiếu dời đô, bản khai sinh Thăng Long-Hà Nội ra đời đã nghìn năm, nay đọc lại vẫn còn rung động, cuốn hút và cảm phục về tầm nhìn chiến lược của Lý Công Uẩn.
Lên ngôi tháng 10 năm 1009, chưa đầy 1 năm sau, tháng 7 năm 1010 Lý Thái Tổ hạ Chiếu dời đô.
Chiếu dời đô là một áng thiên cổ hùng văn, trước hết ở tầm nhìn và sự quyết đoán của một bậc minh quân. Từ nơi “muôn vật không hợp” vì nhỏ bé, ẩm thấp, tối tăm, nhà vua đã nhìn ra nơi “chính giữa Nam Bắc Đông Tây, tiện nghi núi sông sau trước”. Không phải đến lúc ngồi trên ngai vàng nhà vua mới khám phá ra điều đó, mà tình yêu đất Thăng Long đã nung nấu trong trái tim Lý Công Uẩn từ trước đó rất lâu, rất kỹ lưỡng. Qua nghìn năm Thăng Long- Đông Đô-Hà Nội tỏ rõ là nơi đất thiêng, trung tâm trời đất, như cách đây 1.000 năm Lý Công Uẩn nhìn ra.
Cái hay hơn nữa trong Chiếu dời đô, chính là tinh thần vì dân, vì nước. Trong một thế nước nhỏ, luôn bị ngoại bang đe dọa nhưng việc dời đô không lấy lý do chính là vì quân sự, mà lý do đặt lên hàng đầu là vì cuộc sống của muôn dân, trăm họ. Dân chính là cái gốc của nước, Lý Thái Tổ đã sớm nhận ra và khẳng định mạnh mẽ điều đó. Lịch sử chứng minh, chỉ bằng cách chăm lo cho dân, khoan thư sức dân mới là kế sâu rễ bền gốc để thế nước đi lên, vững vàng non sông ngàn thủa!
|
Chiếu dời đô Ngày xưa, nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô, nhà Chu đến Thành Vương ba lần dời đô, há phải các vua thời Tam đại ấy theo ý riêng tự dời đô xằng bậy đâu. Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương-Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp. Trẫm rất đau đớn, không thể không dời. Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương, ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa Nam Bắc Đông Tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời. Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào? LÝ CÔNG UẨN |
Cái hay khác nữa, mà thời nay cần phải học rất nhiều là tinh thần ngắn gọn, cô đọng, súc tích, mà vẫn nói được những điều muốn nói. Trong một thời đại phong kiến, lễ nghi rườm rà, nhiều thủ tục nặng nề, thưa gửi cung kính không được làm tắt, vậy mà Chiếu dời đô vô cùng ngắn gọn, vẻn vẹn 217 chữ Hán, khoảng gần 250 chữ quốc ngữ (tùy bản dịch). Ngắn gọn bằng đúng một cái tin ngắn trên các số báo ra hằng ngày hôm nay. Ngắn gọn thế, quân quan bên dưới sẽ mất ít công học, mà vẫn thuộc, chỉ đọc một lần cũng rõ ý, làm theo ngay, không thể hiểu lầm.
Cũng có nhà sử học và nhiều bạn viết cho rằng Chiếu dời đô không hay ở chi tiết lấy ví dụ Thương, Chu ở nước ngoài, như vậy là không đề cao tinh thần dân tộc. Nước Nam ta cũng đã nhiều lần dời đô trong lịch sử trước đó, sao Lý Công Uẩn không lấy ví dụ ngay nước mình?
Nhưng, tôi nghĩ khác. Lý Công Uẩn đã có một tầm nhìn quốc tế và tinh thần dân tộc rất cao. Tham khảo nước ngoài, nhất là nước mạnh hơn ta nhiều lần là rất cần thiết. Học cái hay của bạn, thậm chí không phải là bạn, nhưng hay thì vẫn học, đó cũng là tinh thần hợp tác, đấu tranh với đối tác, đối tượng, hôm nay chúng ta đang quán triệt.
Một ý nghĩa khác, lớn lao hơn ta đã thấy trong Chiếu dời đô là Lý Công Uẩn đã tỏ rõ khí phách của nước Việt ta có chủ, đặt Đinh, Lê ngang hàng Thương, Chu. Nước láng giềng sát ta là Trung Hoa (nghĩa là ở giữa trời đất, trung tâm của thế giới, như cái phần nhụy hoa của những cánh hoa…), thì Lý Thái Tổ cũng đã nhìn thấy Đại La ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa Nam Bắc Đông Tây…, nào đâu có kém gì!
Cái tinh thần nước Nam ta có chủ sau này cũng được thể hiện rõ trong bài “thơ thần” của Lý Thường Kiệt khi chế giặc trên sông Như Nguyệt.
Chiếu dời đô, vì thế, thêm nghìn năm sau nữa vẫn lay động lòng người.
NHẤT THẢO
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận