Nói đến danh nhân Tản Đà là nói đến nhiều cái “nhất’, những kỷ lục trên văn đàn Việt Nam. Ông học chữ Hán rất giỏi nhưng đi thi nhiều lần không đỗ. Năm 1921, ông đứng ra làm chủ bút của “Hữu Thanh tạp chí” nhưng sau 6 tháng thì từ chức, trở về quê sống...
Nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Huệ Chi nhận định: “Tản Đà nổi lên như một hiện tượng đột xuất, vừa độc đáo, vừa dồi dào năng lực sáng tạo. Tản Đà là nhà thơ giao tiếp giữa thế hệ thi ca cổ điển và thế hệ các nhà thơ “Thơ Mới” trước Cách mạng Tháng Tám. Ông có địa vị quan trọng trong văn học Việt thời kỳ cận đại”. Có ý kiến còn cho ông là “Nguyên soái của Tao Đàn thơ Mới”. Theo Nguyễn Khắc Xương, con trai cả của ông, thì Tản Đà là cây bút chuyên nghiệp duy nhất vào thời đó và là nhà văn chuyên nghiệp đầu tiên trong lịch sử văn học Việt .
Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu sinh ngày 25-5-1889; quê ở làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây (nay là huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây), mất ngày 7-6-1939.
Nói đến danh nhân Tản Đà là nói đến nhiều cái “nhất’, những kỷ lục trên văn đàn Việt . Ông học chữ Hán rất giỏi nhưng đi thi nhiều lần không đỗ. Năm 1921, ông đứng ra làm chủ bút của “Hữu Thanh tạp chí” nhưng sau 6 tháng thì từ chức, trở về quê sống. Năm 1922, ông trở ra Hà Nội lập “Tản Đà thư điếm” (còn có tên gọi là “Tản Đà tu thư cục”-nhà xuất bản đầu tiên ở nước ta) và hợp tác với “Nghiêm Hàm ấn quán”, cho xuất bản “Tản Đà trung văn”. Đến năm 1926, ông cho ra đời tờ “An Nam tạp chí”, mà mục đích hoạt động của nó chịu ảnh hưởng của phong trào yêu nước. Tuy nhiên, chỉ được chừng mươi số thì tạp chí bị đình bản. Đến năm 1930, ông cho tái bản “An Nam tạp chí” nhưng chỉ được có 2 số thì lại bị đình bản. Tháng 4-1931, ông lại cho tái bản tạp chí nhưng lại nhanh chóng bị đình bản… Tổng cộng “An Nam tạp chí” có tới 6 lần xuất hiện và tái xuất-một kỷ lục trong ngành in ấn, xuất bản Việt Nam và thế giới-nhưng cuối cùng, vào năm 1933 thì bị đình bản vĩnh viễn. Ông đã cố gắng làm mọi việc có thể để đưa gia đình thoát khỏi cảnh nghèo túng nhưng hầu như chẳng thay đổi được. Đó cũng chính là một trong những nguyên nhân chính để ông có một cái “nhất” khác: là người cầm bút duy nhất làm thơ “khóc Tết”, tất nhiên là tự trào một cách chua chát nhưng không bi lụy.
Vào dịp Tết Bính Tý (1936), nhà thơ Tản Đà có viết một bài Hát nói; bắt đầu bằng 4 câu mưỡu:
Trời cành lá la đà
Lạc Hồng cõi cũ xuân già càng xuân
Ngày xuân chúc nước mừng dân
Ba kỳ Bắc mười phân phú cường.
Sau đó là phần đầu bài hát:
Bính Tý hội nguyên kim dĩ thủy
Với sơn hà cũ kĩ bốn nghìn năm
Đường văn minh muôn dặm xa xăm
Đông Tây Bắc người cao cất bước.
Xem ra, tác giả “Giấc mộng con”, “Giấc mộng lớn”, “Thề non nước” rất có tình với nước non, tin tưởng vào tương lai tươi sáng của dân tộc. Ông đinh ninh một vận hội mới sẽ đến và người sẽ nắm bắt được cơ hội đó để phát triển đất nước. Qua đó, ta hiểu thêm những tâm sự yêu nước của ông, một nhà thơ lớn, một công dân có trách nhiệm với cộng đồng, với dân tộc. Trong những ngày đầu xuân Mậu Tý này, đọc lại bài thơ trên, ta cảm ơn lời chúc của nhà thơ Tản Đà và thưa với ông rằng: “Giấc mộng lớn” của những người Việt Nam yêu nước đầu thế kỷ XX, trong đó có ông, đã dần dần trở thành hiện thực từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và đất nước đang mỗi ngày thêm tươi đẹp, “xuân càng xuân” như nhà thơ từng mong ước.
ĐỖ QUỐC BẢO
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận