Ông Trần Quốc Hương (Mười Hương), nguyên Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Nội chính Trung ương, đã từng tổ chức, chỉ huy mạng lưới tình báo chiến lược, gồm Vũ Ngọc Nhạ, Lê Hữu Thúy, Phạm Ngọc Thảo, Phạm Xuân Ẩn...
![]() |
|
Ông Tư Hùng và ông Mười Hương (bên trái) hiện nay. |
Sống bình lặng, giản dị trong căn nhà xinh xắn trên đường Tú Xương, TP Hồ Chí Minh, cùng vợ (cựu tù chính trị Côn Đảo) và các con, ít ai biết ông Trần Sĩ Hùng (Tư Hùng) là nhà tình báo chiến lược và không ai nghĩ ông đã 87 tuổi. Ông tinh nhanh, linh hoạt trong cái nhìn, lời nói và cả dáng vẻ, như một người chưa tới tuổi 70.
Khi tôi gợi chuyện về trận đánh vào sứ quán Mỹ 40 năm trước, ông xúc động, nước mắt ứa ra:
- 16 anh em hy sinh, chỉ còn mình tôi thôi. Tôi nhớ, trưa 30 Tết, Hai Chí (cán bộ đội biệt động Thành) gặp tôi nói rõ kế hoạch đánh sứ quán Mỹ. Tôi biết ngay đây là nhiệm vụ bổ sung, vội vã, chưa được chuẩn bị chu đáo cả về người và phương tiện. Vì ngày Tết có tiền cũng chẳng mua nổi xe nên Hai Chí đánh bạo cầu cứu mượn xe tôi và nhờ tôi lái. Đến lúc ấy, Hai Chí vẫn nghĩ tôi là nhà thầu khoán yêu nước chứ không biết tôi là tình báo chiến lược. Nếu đánh mục tiêu khác thì tôi từ chối ngay, vì cương vị tôi không thể làm công việc bạo động. Nhưng đây là mục tiêu cực kỳ quan trọng, đánh vào không chỉ rung chuyển Sài Gòn mà còn khiến kẻ thù bên kia bán cầu khiếp sợ.
Chiều tối, tôi lái chiếc xe Douauphine, loại 4 chỗ, màu trắng đến quán phở Bình (số 7, Yên Đổ, nay là đường Lý Chính Thắng). Đây là sở chỉ huy tiền phương của Chiến dịch Xuân 1968. Khoảng nửa đêm, tôi chở Ba Đen (đội trưởng đội Biệt động) cùng 3 người nữa đi nhận bộc phá, tại nhà chị Phê-59 đường Điện Biên Phủ, rồi vòng ra khu vực Nhà thờ Đức Bà. Đi sau xe tôi là một xe tải hạng nhẹ, chở quân. Khi tôi cho xe dừng sát lề đường, trước cổng sứ quán Mỹ, các chiến sĩ nhanh chóng nhảy xuống áp bộc phá vào tường, gây nổ rồi lao vào trong, vừa bắn B40, vừa nổ bộc phá.
Khi anh em ra khỏi xe, tôi phóng xe vào con hẻm gần đó rồi đi bộ ra một căn nhà bỏ trống đối diện sứ quán để quan sát. Nếu lúc ấy phóng xe ra về hoặc đi bộ trên đường sẽ bị chúng bắt ngay nên tôi chọn vị trí ngồi lại. Nghe tiếng nổ, xe Zeep của cảnh sát và quân cảnh ập đến, rải quân dọc bờ tường, nhăm nhăm họng súng chĩa ra. Một lát sau mấy chiếc trực thăng quần thảo, bắn như vãi đạn xuống tòa đại sứ. Tôi đau xót, biết chắc là anh em hy sinh. Hôm sau địch đưa tin khoảng 200 nhân viên sứ quán thiệt mạng.
- Trong 20 năm sống trong lòng địch, ông có gặp và quan hệ với ông Mười Hương?
- Anh em tôi có gặp nhau trong nhà tù của Diệm-Nhu (1959-1964), sau này có lần gặp nhau trên phố nhưng vì giữ nguyên tắc nên không nhận nhau, không trò chuyện gì.
Theo hướng dẫn của ông Tư Hùng tôi tìm gặp ông Mười Hương, đúng lúc gia đình ông mới đi thăm, tặng quà những người bị bệnh phong (hủi) ở Lâm Đồng trở về. Hằng năm, vào ngày cuối năm, gia đình ông đều đi làm việc thiện ấy. Ở tuổi 85, tuy sức yếu nhưng ông vẫn tinh thông. Ông kể:
- 40 năm trước, khi tôi trở lại Sài Gòn thì cuộc Tổng công kích vừa nổ ra, chuẩn bị cho giai đoạn 2. Tôi đi theo anh Nguyễn Văn Linh (Phó bí thư Trung ương Cục miền Nam) về huyện Bình Chánh nắm tình hình cơ sở. Anh Linh ngậm ngùi nói: “Lực lượng cách mạng, cơ sở cách mạng bị thiệt hại lớn lắm. Ta vội vã quá. Nhưng dù sao thì cũng rất đáng khen. Quân - dân ta làm cuộc Tổng tiến công như vậy rất táo bạo, rất dũng mãnh, kẻ thù khiếp sợ lắm”. Tôi biết anh Linh từ khi anh ở trong Nam ra gặp Trung ương. Ngày ấy, tôi làm cán bộ công tác đội ở An toàn khu tại Việt Bắc, được sống bên cạnh Bác Hồ và các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Lương Bằng... nên học tập được rất nhiều về đạo đức và phương pháp công tác cách mạng.
- Ông có cảm nhận gì về Chiến dịch Xuân 1968 năm ấy?
- Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm thì Đảng ta đã làm rồi. Tôi chỉ nhận thấy rằng, sau chiến dịch, cơ sở cách mạng của ta bị vỡ khá lớn, có những cán bộ, đảng viên hoang mang, dao động, không đủ tự tin và bản lĩnh để tiếp tục chiến đấu. Tại Mỹ Tho, một đồng chí bí thư chi bộ hỏi tôi: “Anh là cán bộ từ Trung ương vào, tôi hỏi thật, có phải đang là thời kỳ thoái trào của cách mạng miền Nam không? Có người trong chi bộ đã không còn can đảm để tiếp tục hoạt động nữa”.
Chính những lúc thăng trầm ấy mới thử thách phẩm chất đảng viên. Sau Chiến dịch Xuân 1968 đã giúp chúng ta càng thấy rõ lòng tin của dân với Đảng và hiểu rõ hơn suy nghĩ, tâm tư của những đồng chí, đồng đội mình để tiếp tục dìu dắt, giáo dục, thuyết phục, xây dựng lực lượng nòng cốt, trung kiên ở cơ sở.
Bài và ảnh: ĐÀO VĂN SỬ
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận