Thứ Sáu, 10/11/2006, 10:18

    Tạp văn: Bà nội

    Bà nội tôi bán hàng khô ở chợ huyện. Con cháu hình dung bà bằng các cách khác nhau. Tôi nhớ bà thường so sánh với con chim chích có cái khăn vuông màu nâu trùm lên đầu...

    Bà nội tôi bán hàng khô ở chợ huyện. Con cháu hình dung bà bằng các cách khác nhau. Tôi nhớ bà thường so sánh với con chim chích có cái khăn vuông màu nâu trùm lên đầu.

    Bà tôi bé nhỏ và nhanh nhảu, về già có chậm chạp hơn nhưng càng bé nhỏ.

    Ông tôi mất trước bà bốn năm. Từ ngày ông mất, bà nội tôi như sống một mình, cả ngày với chợ, tối mới về. Ông bà tôi có sáu người con, bố tôi là cả và có mười một đứa cháu nội ngoại.

    Bà không ăn trầu, những cây trầu không bà trồng ăn trùm cả nửa sân. Bà thường hái bán và để cho hàng xóm.

    Ngày giỗ đầu ông nội. Con cháu về đông, cô út lấy chồng xa, thương bà cô bảo: “Để bà nghỉ chợ, con cháu hàng đàn, bà phơi ngoài chợ thiện hạ cười cho”. Cả nhà nhìn cô út, nhìn nhau và đồng ý, trừ mình bà. Thâm tâm tôi muốn bà cứ bán hàng, tôi vẫn thường một mình hoặc kéo vài đứa em lên vòi quà lúc trưa và buổi tối ngóng bà về chợ.

    Các cô xúm vào nịnh bà. Bố tôi và các chú khảng khái. Bà miễn cưỡng theo. Sáng hôm sau, bà dậy sớm, bố tôi nhắc, bà bảo: “Để bán nốt hàng cũ”.

    Khu đất tổ tiên được chia đều cho các con trai và thêm phần cho cô hai tôi ở vậy. Chú út lấy vợ, phải xây thêm nhà, cây trầu bị đốn. Bà nằm tiếc một hôm. Bà đi chia lá trầu cho hàng xóm và người thân, đến nhà ai bà cũng kể chuyện cây trầu.

    Bà nghỉ chợ ở nhà thường chỉ một mình. Bà giữ bốn chiếc chìa khóa của bốn hộ. Ổ khóa lạnh ngắt cả ngày… Bọn trẻ ùa về buổi tối cùng cha mẹ, chúng chào bà cho phải phép rồi lao vào gói bánh, mâm cơm và đồ chơi của mình…

    Bà ăn cơm với cô hai tôi ở vậy. Cô nghiện thuốc và ít nói. Cô hay đọc sách và viết văn. Có bữa bà bảo ở nhà mãi buồn lắm. Cô hai châm điếu thuốc lá mới, cô nói: “Bà sáu đứa con còn đơn độc nữa là con”. Bà đứng dậy thở dài.

    Trước bữa ăn bao giờ bà cũng đi vòng một lượt các nhà. Tiếng bà từ ngoài cửa: “Chỗ của bà đâu nào…? Cho bà ăn cơm với!”. Nói vậy nhưng bà chẳng ăn, bà bảo ăn với cô hai quen rồi, cô vẫn dành trong mâm cốc nước lọc, bởi bà ăn hay nghẹn.

    Ở nhà chưa đầy hai tháng bà kêu mỏi lưng, nhức xương, buồn bã chân tay và nóng ruột lắm. Mọi người kêu bà khó tính. Gặp bố tôi, các cô các cháu thủng thẳng: “Thôi tùy bà!”.

    Đi chợ bà vui hơn, lại quang gánh, hàng họ…

    Tối tối về bà có quà để chia, có chuyện để kể.

    Một ngày hửng nắng, sau một tuần mưa dầm gió bấc, bà phải nghỉ chợ. Bà thắp hương cho ông và cầu trời thôi mưa…

    Gần trưa ngày hửng, chị gái tôi đạp xe lên trường học đón tôi, mắt đỏ hoe…

    Bà tôi mất ở chợ khi ngồi bán hàng. Bà gục xuống như người ngủ gật, xung quanh không ai hay. Chị hàng đậu xanh quen bán cho bà gọi mãi chẳng thấy bà thưa. Chị bảo: “Bà cụ nhẹ quá! Cháu bế mà cụ như bấc ấy!”.

    Tôi mất bà nội rồi. Thằng út nhà tôi khóc: “Bà ơi! Con thương bà lắm!”. Cả nhà khóc theo. Cô hai thổn thức vì nỗi không chồng không con. Cô út than phiền mẹ đi nhanh quá, chúng con chẳng được hầu. Bố tôi thưa với mọi người đến phúng viếng: Bà cụ sinh ở chợ, chết cũng ở chợ!

    Tôi ngồi góc nhà, ngước lên nhìn tấm ảnh đen trắng mới phóng nhanh. Hình bà được tách ra từ bức ảnh chụp chung với cả gia đình vào dịp Tết Nguyên đán, khi ấy ông nội tôi còn sống. Khuôn mặt bà tươi lắm, nhất là đôi mắt.

    HỒNG TIẾN

    host

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...