Giờ khó lắm thay, để gặp một cái chợ mang phong vị như thời ông bà ta còn sống. Cũng khó lắm để việc đi chợ trở thành cái thú thanh tao… Ngày còn thơ ấu, tôi có đọc giấu cha mẹ một truyện ngắn của Thạch Lam viết về cô hàng xén. Tại sao lại đọc giấu? Giờ ít người hình dung được chuyện này...
Giờ khó lắm thay, để gặp một cái chợ mang phong vị như thời ông bà ta còn sống. Cũng khó lắm để việc đi chợ trở thành cái thú thanh tao…
Ngày còn thơ ấu, tôi có đọc giấu cha mẹ một truyện ngắn của Thạch Lam viết về cô hàng xén. Tại sao lại đọc giấu? Giờ ít người hình dung được chuyện này. Hồi đó người ta không khuyến khích trẻ con đọc những truyện lãng mạn kiểu đó, cũng như ngày nay họ ít mua cho các em món kẹo bột quà quê.
Chợ huyện một tháng sáu phiên
Gặp cô hàng xén kết duyên Châu Trần
Không phải tất cả những điều đọc được trong truyện ngắn đó tôi đã hiểu. Tuy nhiên hình ảnh một cô Tâm duyên dáng mà lam lũ, vất vả sớm khuya lo việc nhà mình, nhà chồng, đã khiến tôi ứa nước mắt và không sao quên được. Nhất là hình ảnh cuối cùng Thạch Lam viết: “Nàng mải miết đi nhanh vào ngõ tối…”. Đọc hết, tự nhiên tôi yêu cái phong vị của chợ quê đến day dứt.
Đất Việt ta, làng quê ta, ông bà ta là thế. Cái chợ quê của nước Việt cũng chả mấy liên quan đến những thứ triết lý về cung cầu, nền sản xuất hàng hóa… lằng nhằng của các kinh tế gia. Một tháng một, hai, hay sáu phiên cũng chả mấy ai giải thích được vì sao cho gọn ghẽ. Nó có thể xuất phát từ nhu cầu trao đổi hàng hóa cụ thể của vùng miền. Có thể chợ họp dựa theo Âm lịch như mồng Một, ngày Rằm, ngày lẻ ngày chẵn, ngày tế lễ gì đó của làng, của tổng… Nhưng dù gì, chợ xứ Việt không bao giờ chỉ mang ý nghĩa kinh tế. Ta thử gọi tên vài kiểu chợ là thấy. Chợ tình miền cao, chợ âm dương vùng Kinh Bắc, chợ hoa, chợ chữ, chợ thả chim, chợ thơ…
Đàn ông xưa đi chợ áo lương, khăn xếp, giày Gia Định, đàn bà còn xuân sắc thì kín đáo soi lại gương, cũng chả kém đi hội mấy phân đâu. Đến chợ thì kẻ mua người bán, nói thách mặc cả, kẻ ghẹo người đùa, đầu buổi nói giá cao, về chiều thì hết làm phách, đặc biệt lúc tàn canh mới thật não nề cho văn nhân thi sĩ thả hồn thơ: “xóm chợ lều phơi xác lá bàng…”. Chợ là nơi duy nhất người ta có thể ngồi ăn, uống, hít thở, cười đùa hồn nhiên bên những đống rác, mà chợt quên mất cái kỹ tính thường ngày. Ấy phong vị chợ quê nó thế, giờ cũng hiếm gặp lắm trước làn sóng siêu thị, hoặc một thứ chợ gì đó cứ nửa quê nửa tỉnh. Đặc biệt, những cô hàng xén má lúm đồng tiền, hiền dịu hoặc chanh chua, cũng hiếm lắm.
Với người Việt, đi chợ còn thường xuyên hơn đi cúng lễ đình chùa, đi thăm mồ mả tổ tiên, ông bà. Đi chợ phải cởi mình ra. Vì đi chợ người ta phải hiểu và ứng xử được trước sự nói thách, sự kiêng kị trong việc mở hàng buổi sớm, phải biết ngồi xổm ăn quà, hoặc tào lao trên trời dưới bể với những người sẵn chuyện. Vì đi chợ không được nhăn mặt nhăn mũi kiểu thị thành trước rác rưởi, mùi tanh chua nằng nặng của hàng quán, của người lam lũ. Đi chợ phải nghe được thanh âm của chợ, tiếng chào mời, mặc cả, tiếng cãi cọ chửi thề văng tục, tiếng đàn sáo của người tàn tật xin ăn, nghe được giọng hống hách của kẻ có tiền, có quyền, nghe được lời năn nỉ của những người thấp cổ bé họng bị bắt nạt.
Đi chợ xứ Việt phải thấy được thân phận ngàn đời của người phụ nữ, như nhà văn Thạch Lam đã thấy cô Tâm hàng xén. Cô Tâm kết duyên Châu Trần ngày ấy cũng chính là bà lão bán hàng bên miếu cổ, tay nhăn nheo như rễ cây, tóc bạc phơ phất của thi sĩ Đoàn Văn Cừ:
Bà cụ bán hàng bên miếu cổ
Nước thời gian gội tóc trắng phau phau
Cô Tâm ấy chẳng đi đâu xa làng cả, miệt mài thủy chung với phận mình. Còn gánh hàng xén ta vẫn thấy ở chợ, hình như là của cháu gái bà lão bán hàng bên miếu, thế thôi…
Chuyện chợ tưởng như thường tình lắm, nhưng để hiểu cũng không dễ chút nào. Hiểu được, đời ta thêm phong vị, và cuộc sống cũng tốt đẹp thêm chút ít từ nay…
HÀN THỦY GIANG
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận