Thứ Năm, 03/03/2011, 20:41

    Tham gia kháng chiến bằng… độc tấu

    QĐND - Nhà thơ Thanh Tịnh (thi sĩ tiền chiến, nguyên Chủ nhiệm Tạp chí Văn nghệ quân đội, Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật) kể: Ngày 19 tháng 12 năm 1946 ông cùng những bạn bè văn nghệ, bộ đội văn công rời Hà Nội đi kháng chiến, lên chiến khu qua lối Chèm, Vẽ. Ngày 10 tháng 10 năm 1954, tức là sau 9 năm, ông lại cùng những đoàn quân chiến thắng về tiếp quản Thủ đô cũng qua lối phà Chèm..

    QĐND - Nhà thơ Thanh Tịnh (thi sĩ tiền chiến, nguyên Chủ nhiệm Tạp chí Văn nghệ quân đội, Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật) kể: Ngày 19 tháng 12 năm 1946 ông cùng những bạn bè văn nghệ, bộ đội văn công rời Hà Nội đi kháng chiến, lên chiến khu qua lối Chèm, Vẽ. Ngày 10 tháng 10 năm 1954, tức là sau 9 năm, ông lại cùng những đoàn quân chiến thắng về tiếp quản Thủ đô cũng qua lối phà Chèm. Có người bạn cũ, hỏi ông: “Hành lý không có gì à?” Ông cười: “Có mang về một thứ, thứ ấy đi đâu, lúc nào cũng được đón chờ, ai cũng thích…”. “Đó là hành lý gì vậy?”-lại hỏi, “Xin thưa, đó là độc tấu”-nhà thơ trả lời.

    Và sau này, những lúc nhớ lại chín năm đi kháng chiến, Thanh Tịnh vẫn thường nói vui rằng, ông đi kháng chiến bằng… độc tấu, vũ khí tham gia kháng chiến của ông là... độc tấu. Ông vốn người Huế, người Huế nhỏ nhẹ chỉ quen với diễn đàn… xa lông; thêm nữa ông lại là một nhà thơ lãng mạn trước Cách mạng, từng “mòn mỏi”, “vương vấn” với những “tơ trời, tơ lòng” trên đất cố đô suốt cả thời trai trẻ. Ấy vậy mà trong suốt thời gian kháng chiến người ta lại thấy ông có mặt trên khắp các nẻo đường chiến dịch, từ miền núi, trung du, đồng bằng và cả miền ven biển Đông Bắc cùng đồng nghiệp, đồng đội tạo nên những diễn đàn, những sân khấu ngoài trời, nói và diễn cho cả trăm, cả ngàn công chúng bộ đội, dân công và nhân dân các địa phương nghe-nhìn. Những ngày đầu, ông kể, cũng như nhiều văn nghệ sĩ khác tham gia phong trào “văn nghệ sĩ đầu quân”, ông không thể mang “thơ mới”, “thơ lãng mạn” tham gia phục vụ kháng chiến được nên đã nghĩ ra cách là lên sân khấu đọc nguyên văn những bài hiệu triệu, sau đó dựa vào những bài ấy làm thành những câu ngắn theo kiểu diễn ca, ca dao và cuối cùng là tìm ra cách viết những câu chuyện vần vè để kể cho công chúng nghe. Những câu chuyện đó gọi là độc tấu.

    Bằng thể loại nghệ thuật độc đáo này, Thanh Tịnh đã “tự biên, tự diễn” hàng trăm buổi trước công chúng. Ông độc tấu cho bộ đội nghe trên đường hành quân, sau mỗi trận đánh. Ông biểu diễn cho dân công, cho bà con nông dân, trong dịp tết đến xuân về, trong những hội nghị mừng công. Những câu chuyện mà ông thường kể rất gần gũi với bà con nông dân như chuyện một cô du kích, một lão dân quân, một trận đánh, gương dũng cảm của một chàng Vệ quốc quân, đôi khi là cả những sự cay đắng chán chường vì sự thất bại của kẻ thù… Những câu chuyện này được tài diễn xuất của ông thể hiện một cách sinh động nên lại càng thu hút được nhiều người đến xem. Người ta kể, một lần bộ đội về Thái Nguyên chiếu phim. Dân các bản xa gần kéo về rất đông, rất tiếc là do chiếc máy chiếu cà rịch cà tàng nên quá giờ chiếu cả giờ đồng hồ và cảnh lộn xộn trên sân bãi đã có triệu chứng bắt đầu. Một trung đội vệ binh ra sức làm công tác giữ gìn trật tự sân bãi mà xem ra không có hiệu quả. Thanh Tịnh bèn nhảy lên buồng chiếu, đến bên micro nói một cách thản nhiên: “Thưa bà con ! Thưa bà con !”. Thế là chỉ có một bài độc tấu về chiến thắng Việt Bắc do ông ứng khẩu, trật tự đã được lặp lại ngay sau đó. Khi bài tấu của ông vừa xong cũng là khi cái máy chiếu được sửa. Buổi chiếu phim bắt đầu… Hết buổi phim, anh đội trưởng đến nắm bàn tay nhà thơ và bảo: “Tấu của bác có sức mạnh hơn cả một trung đội vệ binh!”…

    Hưởng ứng độc tấu của Thanh Tịnh, nhiều nhà thơ, nhà văn tham gia kháng chiến lúc đó như Lưu Quang Thuận, Phùng Quán, Lê Anh Tâm, Phác Văn… cũng tham gia viết tấu, đôi khi trực tiếp diến tấu. Độc tấu ra đời trên chiến khu đã nhanh chóng trở thành bộ môn nghệ thuật được quần chúng, bộ đội yêu thích.

    Cách mạng, kháng chiến chẳng những đã mở ra cho Thanh Tịnh những lối nẻo lạ trong văn học mà còn thay đổi cả cuộc đời ông, tạo cho ông và bạn bè văn nghệ của ông một sức mạnh để hướng tới cái lớn lao hơn, thiêng liêng hơn, đó là độc lập dân tộc. Lúc trẻ, nhà thơ vốn tướng học trò, nhỏ nhẹ và mộng mơ, đi kháng chiến thơ ông hòa vào nhân dân, tiếng nói ông hòa vào tiếng nói của kháng chiến, của quần chúng. Sinh thời nhà thơ đã nói một cách thật hóm hỉnh, rất Huế, thật Thanh Tịnh: “Tôi có vóc dáng cao lớn là do cha mẹ tôi cho, biết làm độc tấu là do nhân dân, do kháng chiến dạy, và tôi có được giọng nói lớn cũng là vì đã học được trong trường kháng chiến”.

    KIẾN VĂN

    vuhuyen

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...