Nghệ thuật nói chung, và thơ ca nói riêng luôn hướng về sự chuyển động, biến đổi theo thế hệ, thời đại; đáp ứng trúng nhịp chuyển biến của thời cuộc và cả đòi hỏi sự thay đổi tự thân...
Nghệ thuật nói chung, và thơ ca nói riêng luôn hướng về sự chuyển động, biến đổi theo thế hệ, thời đại; đáp ứng trúng nhịp chuyển biến của thời cuộc và cả đòi hỏi sự thay đổi tự thân.
Ở phương Tây, chưa đầy hai thế kỷ, nhân loại chứng kiến bao nhiêu là trào lưu ra đời, phát triển và suy thoái. Những trường lãng mạn - romantisme, trường hiện thực - réalisme, trường tượng trưng - symbolisme, trường siêu thực - surréalime, thơ tân hình thức - new Formalism, thơ mở rộng - expansive poetry, thơ tân truyện kể - new narrative poetry… nẩy nở và phát triển, trùng trùng điệp điệp. Chúng không chết hay bị chôn vùi trong nghĩa trang văn chương chữ nghĩa, như lâu nay chúng ta từng dè bỉu. Cần xem chúng như là những cuộn sóng, những xoáy nước trong dòng sông lớn của thi ca nhân loại. Chúng lặn đi, để sẵn sàng khai sinh đợt sóng mới, đột biến và bất ngờ, góp phần làm nên hình ảnh đẹp của dòng sông. Làm giàu sang biển cả thơ ca nhân loại.
Đó là chuyện ở phương Tây. Phương Đông thì sao?
Có lẽ trong lịch sử Trung Hoa, công chúng văn học đã biết đến vài cuộc thay đổi lớn. Các trường phái triết học hình thành và phát triển qua các thời kỳ khác nhau hoặc xuất hiện cùng thời và cạnh tranh quyết liệt; thêm các biến động kinh tế-xã hội,… kéo theo sự biến động của văn học. Người viết tiếp nhận tư tưởng mới, đáp ứng đòi hỏi của thời đại cũng như nhu cầu làm mới tự thân, chắc chắn đã có những lối thể hiện mới, khác. Nhưng bởi nguyên nhân khách quan: kĩ thuật in ấn chưa phát triển, thông tin còn hạn chế và nhất là thời đại cũ chưa hình thành lớp độc giả tiêu thụ văn chương nên, văn chương Trung Hoa thay đổi, thậm chí thay đổi lớn. Nói như Lưu Hiệp, văn chương đã thay đổi theo thời: thời tự. “Từ thời Trung Hưng về sau, các người tài hơi đổi lối văn”, “thời Hán Hiến Đế (189-220) nhường ngôi, văn học chuyển nhanh”, “Thời Giản Văn Đế (371-372) văn học nổi lên đột ngột”, “từ Minh Đế trở xuống, văn lý thay đổi”,… (Lưu Hiệp).
Người đọc, tùy gu hay não trạng, chọn lựa thứ văn chương hoặc tác giả mình yêu thích. Cứ thế… Chỉ đến khi tiếp xúc với văn học phương Tây, Trung Hoa mới ý thức và đã làm được cách mạng văn học. Việt Nam không nằm ngoài thông lệ đó.
Thời tiền chiến, bên cạnh hệ mỹ học lãng mạn (Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư) và hiện thực (Đoàn Văn Cừ), các nhà thơ Việt Nam cũng đã biết vận dụng thủ pháp tượng trưng (Bích Khê, Chế Lan Viên), siêu thực (Hàn Mặc Tử giai đoạn cuối), sau đó là lãng mạn cách mạng (Tố Hữu) rồi thì hiện thực xã hội chủ nghĩa. Ở miền Nam thời chiến tranh, nhóm Sáng tạo vận dụng thuần thục các thủ pháp siêu thực và hiện sinh, và cũng đã có những thành tựu quan trọng. Thời đổi mới và hậu đổi mới, chủ nghĩa hiện đại, phong trào tân hình thức và các thủ pháp hậu hiện đại đã được các nhà thơ tiếp nhận và sáng tạo.
Các trào lưu và chủ nghĩa trong văn học nghệ thuật cùng với các thủ pháp đặc thù của chúng không bao giờ gọi là lỗi thời. Không thể nói hậu hiện đại thì tiến bộ hơn hiện đại, tượng trưng thì lạc hậu so với cái gì đó. Ai dám bảo việc khám phá hoạt động vô thức của Freud và chủ nghĩa siêu thực thoát thai từ triết học đó là lạc hậu? Mỗi triết học đều giúp con người phương cách mới để khám phá hiện thực. Mỗi trường phái văn nghệ đều có thể hiến tặng cho nghệ sĩ một cách biểu hiện khác trong nghệ thuật. Chúng góp nhiều chiều nhìn để làm phong phú cuộc sống tinh thần của nhân loại. Chỉ khi nào một nhà thơ đương thời lại lạm dụng quá nhiều các thủ pháp của các trào lưu nghệ thuật cũ, khi đó anh/chị ta mới tỏ ra lạc hậu và chịu rớt lại với văn chương của người cùng thời.
Riêng thái độ cản trở sự hình thành và phát triển cái mới, đích thị nó là lạc hậu và phản [chuyển] động.
INRASARA
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận