Thứ Tư, 16/02/2011, 00:12

    Thợ đào đất Giang Tà

    QĐND - Với người dân miền núi, trung du thì đất san nền, đắp đập, cạp bờ…là chuyện đơn giản, cứ trên cao xả xuống là xong. Nhưng, với làng chiêm trũng như làng Giang Tả, xã Nam Toàn (Nam Trực, Nam Định), để phòng ngừa, ngăn chặn lụt lội cho chính nhà cửa, hoa màu, vật nuôi... của gia đình mình thì lại phải làm ngược lại: Đào đất đáy nước để nâng đất lên cao...

    QĐND - Với người dân miền núi, trung du thì đất san nền, đắp đập, cạp bờ…là chuyện đơn giản, cứ trên cao xả xuống là xong. Nhưng, với làng chiêm trũng như làng Giang Tả, xã Nam Toàn (Nam Trực, Nam Định), để phòng ngừa, ngăn chặn lụt lội cho chính nhà cửa, hoa màu, vật nuôi... của gia đình mình thì lại phải làm ngược lại: Đào đất đáy nước để nâng đất lên cao. Công việc nặng nhọc này không phải ai cũng làm được, vì thế lặn ngụp đào đất đã thành nghề “kiếm cơm thiên hạ” của không ít người.

    Cứ như lời lão thợ đất Dương Văn Bẩy tâm sự thì từ xưa đến nay lớp lớp con cháu của làng Giang Tả đều gặp nhau ở thứ “mệnh thủy”. Bắt nguồn từ nghề đào đất ở dưới đáy sông, đáy ao mà dân làng Giang Tả mới sản sinh ra đủ loại ngạn ngữ: “Lặn ngòi, ngoi nước, đào đất, được tiền”, “Đáy sông, ngọn sóng”... cũng như cung cấp cho huyện Nam Trực và tỉnh Nam Định không ít vận động viên bơi lội giỏi.

    Cụ Hoàng Văn Bao - một người thợ đào đất già lão luyện với thâm niên trên dưới 40 năm hành nghề đã cuốn hút chúng tôi bằng câu chuyện về những dấu tích của làng nghề như một truyền thuyết: Để lưu dấu tích và suy tôn cái nghề đào đất truyền thống, bà con Giang Tả của lão trước kia đã đào một cái ao rộng theo hình chiếc thuyền và chiếc mai ở phía trước làng. Vào ngày Rằm tháng Giêng hằng năm, người dân thường sắm sửa vàng mã... để cúng lễ sau đó mang ra đốt. Tập tục ấy đến nay đã mai một, cái ao cũng bị lấp từ lâu nhưng trên nền đất cũ, người ta vẫn còn thấy đường nét, hình dáng của nó.

    No image available

    Cánh thợ của anh Trần Văn Biên.

    Qua tìm hiểu, tôi được biết từ 1960 đến 1980 là giai đoạn sôi động nhất của Giang Tả với khoảng 75-80% hộ dân làm nghề đào đất. Thời đó, ngày công của họ bao giờ cũng cao gấp đôi thợ mộc. Nhờ sõi nghề mà đời sống kinh tế người dân nơi đây lúc bấy giờ được xếp vào loại khá giả nhất vùng. Ngay cả thời buổi hôm nay, nhu cầu sử dụng đất để chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, san lấp mặt bằng và làm gạch ngói... của người dân vẫn cứ tăng cao theo cấp số nhân, nên các thế hệ trai tráng trong làng Giang Tả vẫn hăm hở theo cái nghề đào đất nặng nhọc của quê hương mình.

    Anh Trần Văn Biên bày tỏ: “Tuy nghề đào đất cho thu nhập cao, nhưng quanh năm ngày tháng cánh thợ chúng tôi phải dầm mình trong nước và bùn lầy từ hừng đông tới tối mịt. Sắt thép ngâm lâu ngày trong nước còn mục nát, nói chi da thịt con người! Cái nghề cứ lên bờ một lúc là mốc meo khắp người, hơi bùn bám xà bông cũng không xóa được, phèn ăn vàng khè hết chân tay… Nhưng cho dù có vất vả đến đâu đi chăng nữa thì chúng tôi vẫn  tự hào với cái nghề đào đất, móc bùn nặng nhọc này”. Ông Hoàng Văn Trường khoe: Cái nghề đào mò đất ở dưới đáy sông, đáy ao hồ mỗi ngày cũng cho chúng tôi trên dưới 400 nghìn đồng đấy. Nhưng đâu có dễ ăn, nếu không có sức khỏe!

    Mới vào những ngày đầu năm mà làng Giang Tả đã có hàng chục cánh thợ trẻ hăng hái đẩy thuyền đi đánh vật với đất và nước. Còn đối với những lão thợ đất lành nghề ở đây tuy đã gác mai, buông thuyền hàng chục năm nay nhưng vẫn chưa nguôi ngoai nỗi nhớ... nghề.

     Bài và ảnh: Tô Văn Binh

    vuhuyen

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...