QĐND - Tố Hữu (1920-2002) không chỉ là nhà thơ lớn của Việt Nam thế kỷ XX, ông còn là nhà thơ quân đội. Có thể nói như vậy bởi ông đã từng tham gia tổ chức phong trào Văn nghệ sĩ đầu quân và là Trưởng ban Văn nghệ Quân đội (nhà thơ Chính Hữu là Phó ban) những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954). Sinh thời, đến thăm Tạp chí Văn nghệ Quân đội ông bảo, không phải "đến thăm" mà là "về
QĐND - Tố Hữu (1920-2002) không chỉ là nhà thơ lớn của Việt Nam thế kỷ XX, ông còn là nhà thơ quân đội. Có thể nói như vậy bởi ông đã từng tham gia tổ chức phong trào Văn nghệ sĩ đầu quân và là Trưởng ban Văn nghệ Quân đội (nhà thơ Chính Hữu là Phó ban) những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954). Sinh thời, đến thăm Tạp chí Văn nghệ Quân đội ông bảo, không phải "đến thăm" mà là "về thăm".
Bấy lâu nay nói đến Tố Hữu người ta nghĩ ngay đến một nhà thơ của cách mạng, nghĩ ngay đến một đỉnh cao của thơ trữ tình chính trị Việt Nam trong thế kỷ XX. Lối nghĩ đó rất đúng, nhưng cũng từ lối nghĩ quen thuộc đó dễ làm cho người ta lầm tưởng rằng Tố Hữu “dị ứng” với thơ tình, xa lạ với thơ tình. Bản thân nhà thơ, trong một cuộc nói chuyện về thơ với sinh viên cũng tự nhận “tôi chỉ là anh viết biên niên sử”, chép sử đất nước, sử cách mạng bằng thơ. Vậy nên khi đọc thơ ông hãy chú ý đến những con số ghi ngày tháng, năm ở cuối bài để đặt nó vào đúng bối cảnh ra đời. Trong thơ cũng vậy, có lần, ví dụ như trong bài Bài ca mùa xuân 61, ông cũng tự nhận phần hồn của ông dành cho “em” là rất “khiêm tốn”:
Mà nói vậy: Trái tim anh đó
Rất chân thật chia ba phần tươi đỏ
Anh dành riêng cho Đảng phần nhiều
Phần cho thơ và phần để em yêu
Trên thực tế, tình yêu của Tố Hữu có thể nói là rất mê say và lãng mạn. Có lẽ bởi hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc và những năm chiến đấu với cái đói nghèo của cả nước sau đó đã khiến cho những câu thơ về tình yêu của ông bị vóng rợp, bị khuất lấp. Thơ tình của ông rõ ràng, hiển nhiên là chịu “lép vế” khi đứng cạnh những vần thơ trữ tình cách mạng của ông. Một Nhớ đồng (1939), một Mưa rơi (1948)… hay một Đêm thu quan họ, Một tiếng đờn... sau này không thể nào lại có thể chiếm chỗ hoặc vượt cao lên được bên những Huế-tháng Tám, Việt Bắc, Bài ca xuân 68, Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, Hãy nhớ lấy lời tôi,Ta đi tới, Nước non ngàn dặm...
Nhưng khuất lấp không có nghĩa là không có. Trong số những bài thơ tình ít ỏi đã công bố của Tố Hữu, đáng chú ý nhất có lẽ là các bài Sợ (1947), Mưa rơi (1948), Đêm quan họ (1986)... Bài Sợ và Mưa rơi có lẽ được Tố Hữu làm khi đang yêu và viết về một mối tình có thật, mối tình đầu của ông. Trong một hồi ký về Văn nghệ buổi đầu kháng chiến thấy ông nhắc nhiều đến một người con gái mà ông gọi là “bé Xanh”. Ông viết: “... Tôi chào anh (đồng chí Trường Chinh-KV) ra về, lòng vẫn day dứt, bâng khuâng: Làm thế nào để xây dựng một nền văn nghệ kháng chiến? Bụng nghĩ như thế mà chân thì tự nhiên cứ theo đường rừng lần ra trạm liên lạc, xem “bé Xanh” của anh thế nào rồi… hai đứa rủ nhau ra quán ở ngã ba mua mấy nải chuối và “mắc cộc” rồi lại dắt nhau về trạm ăn tối một rá cơm và sắn luộc, một đĩa măng chua và một tô bí đỏ...".
Nhân vật mà Tố Hữu kêu là “bé Xanh” còn được nhà thơ nhắc lại nhiều lần trong hồi ký của mình. Có một đoạn ông viết: “Một buổi chiều, sắp chạng vạng, một đoàn cán bộ nữ, ba lô oằn lưng, lếch thếch qua chân đồi, nơi chúng tôi đang hóng gió. Tôi chạy xuống bờ đường xem có ai quen. Trời phật ơi! Em của anh!. Em đang lúc cúc đi, tóc xõa trên trán, trên má đỏ bừng mồ hôi, ướt đầm áo nâu. Mừng quá liền túm lấy tay em, làm em hơi hoảng, ai lại túm lấy nhau giữa đoàn chị em thế này” có lẽ sau này đã được viết thành bài Mưa rơi với những câu:
Mưa rơi đầm lá cọ
Mái tóc em ướt rồi
Đôi má em bừng đỏ
Muốn hôn quá... mà thôi
Sợ em mìmh xấu hổ
Cầm hai bàn tay nhỏ
Xa nhau chẳng muốn rời…
Bài thơ nói về một cuộc gặp gỡ rồi chia xa, nói về một tình yêu trong kháng chiến ấy sau này đã được nhạc sĩ Trần Hoàn phổ nhạc thành bài hát. Đây là một bài tình ca hay nhất trong số những ca khúc của Trần Hoàn. Và Mưa rơi trở thành một trong những bài hát được nhiều người ưa thích nhất trong nhiều thập niên qua.
Viết về “bé Xanh”, về mối tình say đắm ngoài bài Mưa rơi, Tố Hữu còn có bài Sợ. Đây cũng là một bài thơ tình đáng chú ý của ông. Bài thơ chỉ có bốn câu nhưng nói được cái say mê, nồng thắm của tình yêu: Sợ tiếng gà gáy sáng, cũng là nỗi sợ phải xa nhau, mong ước được bên nhau mãi mãi:
Đêm lạnh, lều rơm, không cửa liếp
Hai đứa mình ôm nhau trên sàn nứa
Nằm bên em, nghe mà ấm vòng tay
Sợ tiếng gà gáy sáng hết đêm nay.
Viết bài Mưa rơi và bài Sợ vào những năm đầu của cuộc Kháng chiến chống Pháp, ngày ấy Tố Hữu mới 27 tuổi... Và khi ông đã ra người thiên cổ, đọc lại tập Một tiếng đờn cùng những bài thơ lẻ in rải rác trên các báo thêm hiểu rằng, Tố Hữu không hề xa lạ, không hề “dị ứng” với thơ tình. Những miền thơ của ông trước đây bị khuất lấp, bị vóng rợp nay người đời đã có điều kiện để nhìn ra. Dẫu không nhiều, dẫu chỉ là “Một tiếng đờn” như ông viết.
Cũng trong buổi trò chuyện thân mật với anh em nhà văn quân đội và một số sinh viên năm ấy, khi được hỏi về thơ tình của lớp trẻ hiện nay, Tố Hữu đã trả lời một cách hóm hỉnh rằng, thơ tình là thơ của tuổi trẻ, nhưng không phải riêng của lớp trẻ, bởi nó cũng như văn nghệ, văn nghệ không bao giờ có tuổi. Rồi ông chấm dứt câu chuyện “thơ tình” bằng nhận xét: “Thơ tình hiện nay nhiều quá, có cái lá me thôi mà cứ rơi hoài. Tôi e một mai, me ở các con đường Hà Nội và ở Thành phố Hồ Chí Minh sẽ không còn lá!”.
KIẾN VĂN
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận