Thứ Năm, 30/12/2010, 21:34

    Thu Bồn “Anh như cơn gió làm sao bắt”

    QĐND - Nói tới nhà thơ Thu Bồn không thể không nói tới tác phẩm đầu tay của ông, trường ca Bài ca chim Chơ-rao, ông viết ở chiến trường Tây Nguyên năm 1962 khi mới chưa đầy ba mươi tuổi...

    QĐND - Nói tới nhà thơ Thu Bồn không thể không nói tới tác phẩm đầu tay của ông, trường ca Bài ca chim Chơ-rao, ông viết ở chiến trường Tây Nguyên năm 1962 khi mới chưa đầy ba mươi tuổi.

    Bài ca chim Chơ-rao không chỉ là tác phẩm "từ miền Nam gửi ra", từ tiền tuyến lớn miền Nam gửi ra miền Bắc hậu phương lớn xã hội chủ nghĩa có sức lay động, cổ vũ hàng triệu con tim yêu nước vượt Trường Sơn, đi chiến trường B, đi giải phóng miền Nam vì mục tiêu hòa bình, thống nhất đất nước mà còn là một trong những tác phẩm tiêu biểu đầu tiên của văn học Việt Nam được trao giải thưởng văn học quốc tế - Giải thưởng Lotus của Hội Nhà văn Á-Phi (1973).

    Với Bài ca chim Chơ-rao, Thu Bồn trở thành người đầu tiên viết trường ca về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta; đồng thời là nhà thơ đã khai cuộc cho sự bùng nổ của thể loại này trong thời hiện đại. Tiếp theo sự thành công của Bài ca chim Chơ-rao của Thu Bồn là sự thành công của hàng loạt các trường ca của Thanh Thảo (Những người đi tới biển), Hữu Thỉnh (Đường tới thành phố), Nguyễn Đức Mậu (Trường ca sư đoàn), Trần Mạnh Hảo (Đất nước hình tia chớp)... - những tác phẩm mà chúng ta không thể không nhắc tới khi nói về trường ca hiện đại Việt Nam; về thơ ca, về văn học viết về đề tài chiến tranh yêu nước thời chống Mỹ nói riêng và nói chung về văn học Việt Nam nửa sau thế kỷ XX.

    Sau trường ca Bài ca chim Chơ-rao, Thu Bồn còn có thêm mười tập trường ca khác được xuất bản, trong đó phải kể tới Tre xanh (1965), Mặt đất không quên (1970), Ba-dan khát (1976) Cam-pu-chia hy vọng (1978), Oran 76 ngọn (1979), Người vắt sữa bầu trời (1985)...

    Văn nghiệp mà Thu Bồn để lại khá đồ sộ, bao gồm gần 30 tác phẩm đủ các thể loại nhưng nói tới Thu Bồn là phải nói tới trường ca, nói tới Bài ca chim Chơ-rao.

    Vì có Bài ca chim Chơ-rao và những trường ca, những tiểu thuyết, truyện ngắn xuất sắc ấy, Thu Bồn đã được trao Huân chương Quân công, Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật (đợt 1 năm 2001), Giải thưởng văn học Nguyễn Đình Chiểu (1965), Giải thưởng văn học quốc tế Bông sen (1973), Giải thưởng văn học Phan Châu Trinh (Quảng Nam - Đà Nẵng) - 1975. Và cũng do có những đóng góp đáng kể cho văn học, ông được bầu vào Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa II (1963-1983).

     Nói tới Thu Bồn, người ta không chỉ nghĩ đến một thi sĩ cao lớn, có nước da màu đồng đỏ đắn, đôi mắt to, cặp môi dày cùng giọng xứ Quảng to vang mà người ta còn nghĩ ngay đến đó là một người lính, một anh bộ đội.Ông đã từng được ví như một con gấu của Tây Nguyên, của đại ngàn Trường Sơn những năm bom đạn. Ông đã từng viết những câu thơ thật hùng tráng kiểu như: Bơi qua biển lửa ta về lại/ Gặp Thái Bình Dương đến dạo đàn. Nhưng ông cũng là một người thật yếu mềm: Em đến rồi em lại đi/ Biến anh thành gã Trương Chi không đàn.

    Là thế nên nói đến Thu Bồn không thể không nói tới một con người đa sầu, đa cảm. Ông đã từng khóc đồng chí, đồng đội bị thương, bị hy sinh ngoài chiến trường. Ông đã từng khóc con, khóc cho một tình yêu và ông cũng từng khóc, khóc thương cho chính thân phận của mình. Trong tình yêu, ông đã từng:

               Em - con ngựa chứng không cương

              Anh - tên kỵ mã vết thương đầy người

    Nhưng đôi khi ông cảm giác như mình là một ngọn gió. Anh như cơn gió làm sao bắt. Câu thơ năm nào ông viết thế.

    Và như vậy nói tới Thu Bồn là nói tới "một khối mâu thuẫn lớn" như cánh chim Chơ-rao đấy bỗng chốc lại là một lũy tre xanh.

    ...Với Thu Bồn, tất cả đều hết mình. Hết mình cho văn chương, hết mình cho tình yêu, hết mình vì con, vì vợ, vì bạn bè... ở ông dường như không có sự lười nhác, nửa vời.

    Anh em ở Tạp chí Văn nghệ quân đội xem chuyện tác giả Bài ca chim Chơ-rao đánh trần chẻ củi, băm chặt thịt heo, nhóm lửa, nấu ăn trong những dịp cơ quan mừng công, đón Tết... là bình thường. Bạn bè cũng kể Thu Bồn đào ao, trồng cây, tự đóng chuồng gà, chuồng vịt... gây dựng "cơ ngơi" dưới khu văn công Mai Dịch, rồi ông cùng anh em văn nghệ sĩ quân đội tham gia chiến dịch đào vét sông Tô Lịch ra sao...

    Năm 1980, cơ quan Tổng cục Chính trị tổ chức một trại sản xuất tự túc ở Mỏ Chén (Sơn Tây). Lúc bấy giờ đất nước còn gặp rất nhiều khó khăn nên cơ quan nào, đơn vị nào cũng phải tổ chức những trại nuôi lợn, nôi bò, trồng ngô, trồng sắn... để tự túc một phần thực phẩm, lương thực. Các nhà văn ở Tạp chí từ người lẻo khoẻo, loèo khoèo như Duy Khán hay "liễu yếu đào tơ" như Nguyễn Thị Như Trang đều phải thay nhau đi lao động sản xuất. Thu Bồn tỏ ra là một lực điền. Ông làm khỏe mà ăn cũng khỏe.

    Nhà văn Nguyên Ngọc nhận xét: "Tất cả những ai đã gặp Thu Bồn đều có cảm giác như không phải cuộc sống lôi cuốn anh, mà chính anh lôi cuốn cuộc sống ào ào đi theo mình trong một cơn lũ sóng ào ào, vội vã, cuống quýt, cứ như lúc nào cũng sợ thiếu, lúc nào cũng sợ muộn, lúc nào cũng sợ không đủ, không kịp". Còn tôi, tôi nghĩ về ông giản dị hơn, ông là nhà thơ đồng thời là người lao động, cũng như với thơ, trong lao động Thu Bồn luôn luôn hết mình. Ở ông, dường như không có chỗ cho sự lười nhác, cho sự nửa vời.

     KIẾN VĂN

    vuhuyen

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...