Thứ Sáu, 06/04/2007, 22:29

    Thương nhớ nhà văn Xuân Thiều

    Nhà văn Xuân Thiều xuất hiện trên văn đàn cách nay chừng 50 năm. Khi ấy ông còn là một người lính rất trẻ đang phục vụ ở một đơn vị bảo vệ giới tuyến quân sự tạm thời (phía Bắc sông Bến Hải-Quảng Trị).

    No image available

    Nhà văn Xuân Thiều. Ảnh Internet

    Tôi có may mắn được ở cùng cơ quan với ông trong tư cách là một sĩ quan dưới quyền, lại là người hàng xóm-nhà tôi và nhà ông đều trên “phố nhà binh” Lý Nam Đế, Hà Nội cho nên ngót nghét ba chục năm qua, ông viết gì dù là một bài thơ, một bài phê bình, tranh luận văn học hay một cuốn tiểu thuyết tôi đều biết và dường như là một trong những người đọc đầu tiên của ông.

    Ông xuất hiện trên văn đàn cách nay chừng 50 năm. Khi ấy ông còn là một người lính rất trẻ đang phục vụ ở một đơn vị bảo vệ giới tuyến quân sự tạm thời (phía Bắc sông Bến Hải-Quảng Trị). Tác phẩm đầu tay của ông được đăng trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội-Trắng đêm cũng chính là tác phẩm được giải trong cuộc thi “Viết về đời sống bộ đội trong thời bình” do tờ tạp chí này tổ chức. Liền sau đó là truyện ngắn Dưới hầm bí mật của ông lại được Tạp chí Văn nghệ (Hội Văn nghệ Việt Nam) trao giải. Năm đó ông 27 tuổi.

    Hai mươi bảy tuổi bước vào làng văn và cho đến trước khi lâm bệnh, tuổi đã ngoại thất tuần ông vẫn nổi tiếng là người viết, đọc và đi khỏe. Thế mới có câu: “Trời sinh ra bác Xuân Thiều/Nơi nào mở trại thì điều bác đi”.

    Bây giờ, từ hôm nay, sáng sớm ngày thứ tư, mồng 4 tháng 4 năm 2007, ông vĩnh viễn không còn đọc, đi và viết được nữa! Ông sẽ về với miền vĩnh hằng-như tên mảnh đất ông sẽ nằm lại mãi mãi-Nghĩa trang công viên Vĩnh Hằng (Vật Lại, Ba Vì, Hà Tây).

    Ông là nhà văn Xuân Thiều, sinh ngày mồng 1 tháng 4 năm 1930 tại làng Triều Đông, xã Bùi Xá, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, một vùng quê nghèo nhưng hiếu học và giàu truyền thống yêu nước. Mười lăm tuổi ông đã tham gia hoạt động cách mạng tại địa phương, mười bảy tuổi tòng quân và bắt đầu cuộc đời bộ đội, cuộc đời viết văn. Cuộc đời cầm súng, cầm bút của ông dường như vắt ngang qua cả hai cuộc trường kỳ kháng chiến vĩ đại của dân tộc, kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ cứu nước. Từ một người lính trơn ông trở thành một đại tá (đại tá 668, hưởng lương tương đương thiếu tướng), từ một người viết văn nghiệp dư dưới đơn vị cơ sở, ông trở thành một nhà văn tên tuổi, Phó tổng biên tập một tờ tạp chí văn nghệ lớn có uy tín hàng đầu đất nước-tờ Văn nghệ Quân đội, và từng là người phụ trách Ban Sáng tác Hội nhà văn Việt Nam (khóa V). Từ một học sinh trường làng, ông trở thành một cán bộ cao cấp của quân đội, được tặng Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng, được thưởng dường như đầy đủ các loại huân, huy chương chiến đấu, trong đó có Huân chương Độc lập, Huân chương Kháng chiến, Huân chương Chiến công; trở thành một nhà tiểu thuyết, nhà truyện ngắn từng đoạt nhiều giải thưởng văn học lớn như: Giải thưởng Nhà nước về Văn học-Nghệ thuật, giải thưởng Hội Nhà văn, giải thưởng Bộ Quốc phòng, giải thưởng Nguyễn Đình Chiểu…

    Hai mươi bảy tuổi bước vào làng văn và cho đến trước khi lâm bệnh, tuổi đã ngoại thất tuần ông vẫn nổi tiếng là người viết, đọc và đi khỏe. Thế mới có câu: “Trời sinh ra bác Xuân Thiều/Nơi nào mở trại thì điều bác đi”.

    Hành trình văn học của ông gắn liền với những cuộc hành quân chiến đấu của bộ đội, gắn liền với các chiến trường, trong đó quen thuộc nhất, gắn bó nhất đối với ông là chiến trường "Bình-Trị-Thiên khói lửa". Ở đó, những năm chiến tranh, với bút danh Nguyễn Thiều Nam, ông đã viết những tác phẩm được nhiều người biết tới như: Mặt trận kêu gọi, Chiến đấu trên mặt đường, Gieo mầm, Tâm sự chiến sĩ quản tượng, Chuyện làng Rapồng... đó là những tác phẩm đầy máu lửa nhưng cũng thật lãng mạn. Và cũng vì những năm tháng chiến đấu ấy, về sau ông mới có những Huế mùa mai đỏ, Truyền thuyết quán tiên, Xin đừng gõ cửa, Người mẹ tội lỗi… làm lay động con tim biết bao người đọc.

    Ông không chỉ được biết đến bởi những bộ tiểu thuyết, những tập truyện ngắn trứ danh mà còn được biết tới bởi những tập thơ, như tập Tre xanh, tập Và nỗi nhớ với nhiều bài, nhiều câu được nhiều người thuộc, nhớ và những bài bình luận văn nghệ khi dạt dào cảm xúc, say đắm; lúc quyết liệt gay gắt nhưng rất giàu tính thuyết phục, như tập Tiếng nói của cảm xúc...

    Ông có quan niệm viết về chiến tranh khá táo bạo, ông cũng là người đổi mới lối viết về đề tài chiến tranh khá sớm. Ông bảo: "Viết về chiến tranh nhưng không cổ xúy cho chiến tranh vì chiến tranh chỉ mang đến sự hủy diệt và bất hạnh cho con người. Ông giải thích thêm rằng, chiến tranh "đấy chính là trò đùa khắc nghiệt thật, đòi hỏi nhà văn phải có chỗ đứng vững chắc, có đầu óc tỉnh táo, có tầm nhìn sáng suốt và hơn hết là một tấm lòng nhân hậu, ưu ái đối với con người". Ưu ái với con người, thương vợ, quý yêu con cháu, nặng tình huynh đệ, thương yêu đồng chí đồng đội, đồng nghiệp dường như là lẽ sống của ông. Có lẽ bởi sinh ra trên vùng đất nghèo, hoạt động, chiến đấu cùng ở một chiến trường ác liệt và cũng nghèo, từng sống nhiều năm ngoài xóm Phúc Xá, lụt lội khó khăn, nên sinh thời ông sống rất thủy chung và luôn đồng cảm với những cảnh đời nghèo khó. Sống giữa trung tâm Hà Nội nhưng ông đau đáu với quê nhà. Hòa bình thống nhất đã trở lại rất lâu nhưng ông vẫn không bỏ lỡ mỗi dịp ghé về chiến trường xưa, về những làng quê cũ mà gia đình ông từng sơ tán… Ông sống giản dị và rất dễ gần. Là thế nên ông có rất nhiều những bạn đồng ngũ, đồng hương, đồng tuế, bạn mê bóng đá, bạn làm câu đối, bạn cùng sở thích chơi cờ… Những bạn văn ở tạp chí Văn nghệ và nhà xuất bản cũng chẳng còn được in bài, in tác phẩm của ông với bút danh Xuân Thiều, Nguyễn Thiều Nam và cả Tú Hói nữa.

    Tú Hói là một bút danh của ông mà có lẽ còn ít bạn đọc biết đó chính là Xuân Thiều. Được hỏi tại sao lại lấy bút danh ấy dưới các câu đối, giai thoại ông trả lời bằng chính một câu đối có tính chất “tự trào” như sau:

    - Có đỗ đâu mà “tú”, dăm ba chữ Tây Tàu lõm bõm, cũng văn thơ, cũng câu đối nhì nhằng, vẫn cứ liều làm “tú” (tout: tiếng Pháp có nghĩa là tất, tất tần tật).

    - Đầu đã hói còn “xuân”, mấy mươi năm văn nghệ lai rai, khi biên tập, khi phóng viên đắp đổi, hẳn đang muốn hồi “xuân” (xuân trong chữ Xuân Thiều, người có cái đầu hói).

    Tú Hói đã làm cả trăm câu đối tặng bạn bè, người thân. Câu nào cũng đối nhau chan chát, câu nào cũng hóm hỉnh và nhiều ý tứ. Nhiều câu vô cùng táo bạo ví như câu mừng hai bậc huynh trưởng của “nhà số 4” là nhà thơ Vũ Cao và nhà văn Từ Bích Hoàng cùng sinh nhật tuổi 50, cùng vinh thăng thượng tá (1972).

    - Mình năm mươi, cậu cũng năm mươi. Ừ nhỉ chúng mình tròn trăm tuổi.

    - Đây cấp tá, đấy cấp tá. Ờ hay hai đứa chẵn đôi quan.

    Đem trăm tuổi, đôi quan ra mừng thọ thủ trưởng thì thật là to gan! Ấy vậy mà rất có ý nghĩa.

    Chuyện câu đối, giai thoại về Xuân Thiều kể dài dài có thể tới trăm lẻ một ngày. Là thế nên viết, nói về Xuân Thiều, phần vĩ thanh có thể nói: Ông ấy còn có bút danh là Tú Hói.

    Nhưng từ hôm nay chẳng bao giờ còn được thấy cả Tú Hói, Xuân Thiều độc bộ một cách nặng nề trên hè “phố nhà binh” lao xao lá vàng rơi nữa. Tôi viết vội mấy dòng này thay cho lời chào vĩnh biệt ông, vĩnh biệt nhà văn Xuân Thiều.

    NGÔ VĨNH BÌNH

    host

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...