QĐND - Tư duy trần thuật trong tiểu thuyết giai đoạn 1945 - 1975 là tư duy phân tuyến địch - ta rõ ràng. Nó ảnh hưởng rõ rệt của tư duy bổ đôi phân cực trong cổ tích. Vì thế, trần thuật thường đi theo ngôi thứ ba, khách quan, biết hết, nó không thể đi sâu vào những diễn biến tâm trạng, những suy nghĩ trăn trở của cá nhân, những biến cố bi kịch đời tư mà đặt hứng thú vào miêu tả hành động...
QĐND - Tư duy trần thuật trong tiểu thuyết giai đoạn 1945 - 1975 là tư duy phân tuyến địch - ta rõ ràng. Nó ảnh hưởng rõ rệt của tư duy bổ đôi phân cực trong cổ tích. Vì thế, trần thuật thường đi theo ngôi thứ ba, khách quan, biết hết, nó không thể đi sâu vào những diễn biến tâm trạng, những suy nghĩ trăn trở của cá nhân, những biến cố bi kịch đời tư mà đặt hứng thú vào miêu tả hành động. Đối với tiểu thuyết về đề tài chiến tranh hôm nay, có thể coi xu hướng trần thuật thiên về góc nhìn đời tư là một bước tiến so với giai đoạn trước đó. Từ góc nhìn này nhà tiểu thuyết đã đưa nhân vật về với đời thường tạo ra một sự dân chủ, bình đẳng đúng với bản chất thể loại của tiểu thuyết. Ở phần trên ít nhiều chúng tôi đã đề cập tới không gian đời tư của các nhân vật cả bên ta lẫn kẻ thù. Dưới đây chúng tôi xin đi sâu hơn vào các biểu hiện cụ thể.
Đã gọi là tiểu thuyết sử thi thì cảm hứng sử thi bao giờ cũng là âm hưởng chủ đạo, bao trùm, xuyên suốt tác phẩm. Đây không phải là nét đổi mới nhưng cũng xin nói qua để làm điểm tựa nhấn sâu vào nét mới của cảm hứng thế sự và cảm hứng bi kịch.
Thi pháp học hiện đại lấy quan niệm nghệ thuật về con người là khái niệm hạt nhân mang tính chìa khóa để mở ra các lớp văn bản. Điều này hoàn toàn có lý, vì văn học cũng là con người, xem nói gì về con người là đã phần nào đánh giá được cái dở hay của tác phẩm rồi. Nhìn vào tiểu thuyết đương đại ta thấy xuất hiện hình tượng trung tâm là con người cách mạng ở cả ba khoảng không thời gian, thời đánh Pháp, thời đánh Mỹ và hôm nay - thời bình nhưng vẫn phải làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Đây là hình tượng được ưu tiên trong đối tượng miêu tả ở hầu hết các tác phẩm. Dù rồi đất nước ta sẽ giàu mạnh, văn minh nhưng càng giàu có càng không được quên quá khứ. Cũng như trong giáo dục con người, nếu không chú trọng giáo dục đạo đức thì rất dễ đào tạo ra những con người thông minh nhưng lại độc ác. Thế cho nên những đoạn văn miêu tả hình ảnh quần chúng cách mạng xả thân để có ngày độc lập tự do phải nên đưa vào sách giáo khoa: “Những bà mẹ lao lên trước mũi xe ủi của thằng địch, tay cầm cuốc, tay xách can xăng: - Mày cứ nghiến vào đây. Tao chết mày chết. Những chị ôm con nhỏ trong lòng lăn ra ngay trước xe bọc thép của địch. Những đoàn học sinh, sinh viên trẻ măng phơi phới tuổi xuân rầm rập xuống đường biểu tình đấu tranh. Súng địch xả vào họ…” (Thượng Đức). Đây là chỉ một ví dụ trong muôn vàn ví dụ mà các tiểu thuyết ca ngợi con người hôm qua để giáo dục con người hôm nay. Đừng nói con người thời chiến tranh mới đậm chất lý tưởng vì ở thời nào cũng vậy, đã là con người thì ai cũng có lý tưởng, vấn đề là lý tưỏng gì. Con người thời chiến tranh là lý tưởng đánh giặc cứu nước. Đó là những thanh niên như Thạch, Trí, Nghiệp, Nhiên, Phương… trong tiểu thuyết Xuân Lộc hăm hở được ra trận với suy nghĩ : “…không đi chiến đấu vào lúc này, sợ học xong không còn thời cơ…”. Điều ấy đã góp phần làm sống lại một quan niệm cực kỳ nhân văn ở thời đánh giặc: “Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù”.
Từ góc nhìn đời tư cho thấy, tiểu thuyết hôm nay quan tâm đến việc xây dựng hình tượng người lính như những số phận cá nhân hơn là với hình tượng của một người anh hùng. Con người không chỉ là nhân chứng cho các biến cố lịch sử mà chính các biến cố ấy trở thành phương tiện để các nhà văn khám phá bản chất, số phận nhân vật.
Vinh - nhân vật chính trong Màu rừng ruộng của Đỗ Tiến Thụy, ra trận là một sự chạy trốn. Anh chạy trốn khỏi nỗi buồn, nỗi xót xa khi người con gái anh thương mến đi lấy chồng. Lấy một ông chồng già đã có 8 đứa con. Đám cưới diễn ra khi bà vợ cả vừa mất, còn đắp chiếu để đấy: “Vâng, tôi muốn đi khỏi cái làng Bùi tin hin ngột ngạt. Trong mọi con đường ra đi không con đường nào danh dự bằng con đường đi lính”. Vinh đã nghĩ như thế.
Ngoãn là một trong những nhân vật chiếm khá nhiều trang viết trong Thượng Đức. Là một tiểu đoàn phó dũng cảm, năng động, bản lĩnh nhưng ít ai ngờ được một trong những động cơ vào bộ đội của anh lại là để “rửa” lý lịch cho gia đình, cho tương lai của mấy đứa em, vì gia đình anh có “lý lịch phức tạp”. Ông nội làm lý trưởng, bố nghiện thuốc phiện phá gia chi tử, nhà nghèo, cơm bữa có bữa không, quần áo rách buộc túm đằng trước đằng sau, vậy mà vẫn mắc vào tội “con cháu lý trưởng”. Anh nghĩ chỉ có đi bộ đội mới làm cho lý lịch gia đình anh được trong sáng, hai thằng em mới có tương lai tốt đẹp hơn...
Khá nhiểu tiểu thuyết đề cập đến vấn đề “kỵ húy” là bản năng, tình dục... Có cả những trang văn “đậm đà mùi vị sắc dục mà không hề vướng bận cảm giác thô lậu” trong Xiêng Khoảng mù sương của Bùi Bình Thi. Đó là cảm giác đầu đời của chàng trai mới lớn như Vinh trong Màu rừng ruộng. Trước khi ra trận, Vinh có tình cảm đặc biệt với chị Miền - người con gái xinh đẹp nhưng quá lứa lỡ thì trong làng. Vô tình chứng kiến cảnh chị Miền trong vòng tay của anh lái xe Sản, Vinh đau đớn, hụt hẫng: “Đêm ấy Vinh nằm mơ. Giấc mơ luôn chấp chới khuôn mặt chị Miền. Giấc mơ khiến Vinh rùng mình, thấy có một thứ gì đó tháo thoát khỏi cơ thể bẫng hẫng như máu rút”. Minh Việt trong Bên dòng Sầu Diện, lần đầu vô tình “chạm phải hai vật tròn mềm ẩn sau làn áo ngực của cô bạn gái” cũng khiến anh rùng mình. Toàn trong Thượng Đức, khi đi trinh sát cùng Cẩm Linh chỉ một vài câu nói trêu đùa mà “cậu nhỏ” của anh giở chứng ngóc đầu dậy khiến anh ngượng ngùng không dám đi tiếp…
Tiểu thuyết sử thi 1945 - 1975 ít đề cập tới cái chết, đến mất mát hy sinh. Bởi không gian vật lý miền Bắc ở thời đó là không gian của sử thi, đúng như một đoạn thơ của Chính Hữu: “Xóm dưới làng trên, con trai con gái/Xôi nắm cơm đùm ríu rít theo nhau/ Súng nhỏ súng to chiến trường chật chội/Tiếng cười hăm hở đầy sông đầy cầu”. Con đường đẹp nhất là con đường ra trận, “Đường ra trận mùa này đẹp lắm “(Phạm Tiến Duật). Đấy là một câu thơ đúng và hay. Đúng bởi nó miêu tả chân thực không khí cả miền Bắc lên đường đánh giặc. Hay, vì nó thể hiện tư tưởng của một thời đại sử thi “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Các nhà tiểu thuyết thời đó sống trong cảm hứng sử thi ấy, chịu sự quy định của không khí thời đại nên thiên về xu hướng ngợi ca mà ít đề cập đến cái bi kịch. Không nên đánh giá văn học 1945 - 1975 là văn học “tuyên truyền”, “minh họa” hay “phải đạo”... mà phải khẳng định những đóng góp to lớn của nó đã góp phần cổ vũ, khích lệ, động viên toàn dân đánh giặc giữ nước. Cũng không nên coi việc thiên về ngợi ca là một hạn chế mà chỉ nên coi đó là một đặc điểm của văn học 1945-1975. Sau 1975, nhất là sau 1986 thì điều kiện đã cho phép chúng ta nhìn thẳng vào bản chất khốc liệt của chiến tranh để miêu tả, khám phá, phát hiện và sáng tạo (Ăn mày dĩ vãng - Chu Lai; Nỗi buồn chiến tranh - Bảo Ninh; Đất trắng và Mây cuối chân trời - Nguyễn Trọng Oánh...). Ở ngày hôm nay, tiểu thuyết về đề tài chiến tranh còn vận dụng cả cách kể bi kịch hóa trần thuật, kể về cuộc chiến bằng cái nhìn bi kịch. Nhà văn miêu tả chi tiết những cái chết bi thương: “Lửa cháy, đạn nổ, đạn vạch đường rừng rực, chói lòa, nhằng nhịt trước mặt. Những người chạy, người ngã vật xuống, máu xối ruột lòi, những mảnh thi thể cả ta cả địch văng lên trong ánh lửa” (Những bức tường lửa). Có những cái chết cháy vì bom na pan đã biến những người lính (Thoan, Đại) từ những thanh niên đẹp, cường tráng thành “những cục đen sì nham nhở nằm trên mặt đất”: “Đại có vẻ còn nhiều da thịt hơn nhưng vì thế mà trông nó lại càng đáng sợ. Bộ răng của nó trắng nhởn, chìa ra, hai cái hốc mắt bây giờ chỉ còn là hai cái hốc thô lố, một dòng nước sền sệt đen từ đó rỉ ra như nước mắt” (Những bức tường lửa). Các nhà tiểu thuyết đã để cho nhân vật - người trong cuộc suy nghĩ về chiến tranh: “Chiến tranh dài quá! Hy sinh mất mát nhiều quá!” (Lâm trong Khúc bi tráng cuối cùng), “bom đạn mù trời, cuộc đời đo bằng gang tấc” (Toản trong Thượng Đức)... Sự ác liệt tàn bạo của chiến tranh làm cho con người sống trái với lẽ tự nhiên, nó cướp đi những khao khát bản năng bình thường nhất, giản dị, đơn sơ nhất. Một mảnh đối thoại sau tưởng như vô tình nhưng lại tố cáo mạnh mẽ sự khủng khiếp của chiến tranh:
“ Khuyên nói:
- Tháng này tao không có mày ạ.
- Có gì?
- Thì cái chuyện riêng của con gái ấy mà!
- Tao cũng không có.
- Tại sao vậy?
- Thì mang nặng, đi suốt ngày này sang ngày khác sức khỏe sút, máy móc trong người rệu rã rồi, vận hành trục trặc chớ sao.
- Này, liệu hết chiến tranh, lấy chồng tụi mình có còn sinh con được không Huyền…” (Ngày rất dài).
Người nghe được cuộc nói chuyện giữa Khuyên và Huyền là Thùy - một đồng chí trong cùng đơn vị. Và sau đó, “qua kẽ lá Thùy thấy hai đứa ôm riết lấy nhau, lăn tròn trên cát, da thịt tụi nó trắng toát, đứa nằm trên đứa nằm dưới, rồi đổi lại đứa nằm dưới đứa nằm trên, tụi nó vừa thở vừa cắn nhau, khi cười khi khóc” (Ngày rất dài). Tiểu thuyết hôm nay đã cố gắng phơi bày bộ mặt tàn bạo, khốc liệt của chiến tranh ở mọi ngóc ngách có thể, điều mà ở giai đoạn trước đó chưa có điều kiện khám phá.
Có khi cảm hứng bi kịch đã chi phối toàn bộ cốt truyện, cách xây dựng nhân vật, lời văn từ trang đầu đến trang cuối của tiểu thuyết. Đó là trường hợp Sông cạn (2006 - Dũng Hà). Thái Trung - Nhân vật chính của tiểu thuyết, một cán bộ chỉ huy quân đội đóng quân ở hậu phương miền Bắc, ông được kết nạp Đảng từ tháng 11-1945, thế mà trong cuộc kháng chiến chống Mỹ lại bị quy cho tội là “che giấu tổ chức” nên trở thành “tù giam lỏng” cho đến tận ngày đất nước giải phóng 1975. Bắt đầu chỉ là những “tin đồn” vu vơ không rõ, thế là thủ trưởng Công Hữu gọi anh lên: “… Nói thẳng ra là có người tố cáo anh, anh có biết không? Không à? Có lẽ anh giả vờ không biết đấy thôi, chứ chuyện gì thì bao nhiêu người biết cả…”. Tố cáo về chuyện gì cũng không rõ. Bí mật quân sự! Hiển nhiên là Thái Trung không biết chuyện gì để khai nên anh mắc tội “che giấu tổ chức” và bị cho đi “cách ly” như một phần tử nguy hiểm. Không những anh bị mất hết quyền lợi, nghĩa vụ mà vợ con anh (Hoàng Diễm, Thanh) bị liên lụy, bị nghi ngờ… Tiểu thuyết đã khám phá chiến tranh ở bình diện giữa con người với con người không phải trên chiến hào tiền tuyến mà ở hậu phương miền Bắc. Vì chiến tranh mà làm cho người ta phải “cảnh giác cao độ” rồi sợ hãi đủ thứ, kể cả tin đồn. Chiến tranh đã làm con người ta đơn giản quá, sơ lược công thức quá đến mức không cần tìm hiểu phân tích, chỉ cần “một tin đồn” là có thể đưa người ta vào tù. Chiến tranh đã làm triệt tiêu nhân tính, thui chột khả năng tư duy, kể cả khả năng tư duy thông thường nhất.
Tiểu thuyết về đề tài chiến tranh chỉ quan tâm kể về cái gì thì không tránh khỏi sự tẻ nhạt, đơn điệu, do vậy nó phải hướng tới những cách kể mới, chúng tôi thấy cách cảm thương hóa, tâm linh hóa lời kể là rất đáng chú ý. Bến đò xưa lặng lẽ chọn người kể chuyện là người đã chết cũng là nhân vật chính (Khảm). Cách kể này đã tạo ra ở người đọc một ảo giác về sự khách quan hóa, trung thực hóa của câu chuyện. Là lời của người cõi âm, mà người cõi âm thì cần gì biết đến sự nể nang, sự sợ hãi người cõi dương nên những gì kể ra là sự thực và được “bảo hiểm” bởi “tâm linh”. Cũng vì là lời người cõi âm nên “biết hết” và thấu suốt gan ruột người cõi dương. Thời gian trong truyện là thời gian đồng hiện, hiện tại và quá khứ được soi chiếu qua điểm nhìn người kể một cách rất linh hoạt, từ hiện tại chuyển về quá khứ rồi ngược lại, từ cảnh này chuyển qua cảnh khác tạo ra một thế giới đa cảnh sắc, giàu có tư liệu. Lời văn tiểu thuyết là lời của người đã chết tạo ra chất cảm thương sâu sắc. Cách chọn ngôi kể này không lạ nhưng rất thích hợp với bối cảnh cực kỳ phức tạp, ác liệt đượm màu bi thương của chiến tranh nơi vùng đất giáp ranh Gio Linh, Cam Lộ mà theo ước tính từ năm 1965 đến 1972 số người chết gấp nhiều lần số người sống.
Tiểu thuyết về đề tài chiến tranh hôm nay rất chú ý tạo ra nhiều điểm nhìn và luân phiên thay đổi, dịch chuyển điểm nhìn để tạo ra một sự dân chủ bình đẳng trong nhận xét đánh giá. Một tình huống, một sự kiện nhưng được soi chiếu ở nhiều góc độ cùng phân tích, lật xới, cật vấn, chiêm nghiệm làm cho vấn đề sâu sắc hơn. Có một điểm nhìn mới là điểm nhìn tâm linh, ví dụ kể lại cái chết đầy huyền thoại của một người lính trên chiến trường (Hinh), Khuất Quang Thụy đã để cho Thơm (vợ Hinh) “tường thuật” lại, mặc dù Thơm không hề chứng kiến cái chết của chồng. Người chết (Hinh) dường như đã nhập hồn vào người sống (Thơm) mà kể lại. Cái chết như được vơi bớt đi phần đau đớn vì người chết như cũng đang “sống” cùng với hiện tại, đang “hiện hữu” ở hiện tại. Có cái nhìn tâm linh này đã góp phần tạo ra chiều sâu nhân văn cho câu chuyện (Những bức tường lửa). Chúng tôi cho rằng, nhờ cách cảm thương hóa, tâm linh hóa lời kể này đã tạo ra một giọng điệu mới cho tiểu thuyết về đề tài chiến tranh hôm nay: giọng điệu cảm thương.
Lời văn tiểu thuyết sử thi 1945 -1975 thường mượt mà êm đềm và yên tĩnh vì không có sự tranh biện phản bác giữa lời người trần thuật và lời nhân vật, giữa địa vị nhân vật với tính cách, ngôn ngữ nhân vật. Tất cả như đồng hướng để châu tuần về ngọn cờ sử thi. Tiểu thuyết hôm nay không vậy, lời văn của nó đầy sự tranh cãi, tố cáo khiêu khích. Địa vị của nhân vật (Hoàng Đan) là đại tá - Tư lệnh phó quân đoàn nhưng ngôn ngữ nhân vật lại thông tục, suồng sã, tính cách nhân vật lại bốc đồng chủ quan nóng vội (Thượng Đức)… Điều ấy đã góp phần tạo ra sự đa thanh (chứ chưa phải là phức điệu) cần thiết cho tiểu thuyết...
Đến đây cho phép chúng tôi rút ra kết luận sau: Cái nhìn nghệ thuật sẽ quyết định cách viết, đến lượt mình, cách viết lại chịu sự chi phối, sự quy định của thời đại. Về cơ bản, cái nhìn về chiến tranh của các nhà tiểu thuyết giai đoạn 1945-1975 là cái nhìn chia đôi thế giới, cái nhìn thẳng, rõ ràng địch ta. Sau 1975 thì cái nhìn ấy bị khúc xạ, chiến tranh không chỉ là chia đôi thế giới, mà có khi chiến tranh còn chia đôi cả lòng người, tình người. Chính vì thế mà tiểu thuyết về đề tài chiến tranh hôm nay lại càng đậm chất tiểu thuyết. Nó đang đi đúng quỹ đạo đổi mới cần được tìm hiểu, chú ý nhiều hơn và rất cần sự khuyến khích các nhà văn đi theo hướng này.
Nhà văn, PGS, TS NGUYỄN THANH TÚ (Tiếp theo và hết)
Bài theo sự kiện:
Nhà văn Văn Lê: Khơi dậy cảm hứng sáng tạo của nhà văn
Không chỉ khai thác "vỉa quặng" của quá khứ
Vài ý nghĩ về mảng văn học chiến tranh Cách mạng và người chiến sĩ
Diễn đàn: Để văn học về LLVT và chiến tranh cách mạng xứng tầm hiện thực
Khắc phục “3 cái thiếu” để viết về người chiến sĩ hôm nay
Tiểu thuyết sử thi và sự đổi mới thi pháp
Tiểu thuyết sử thi và sự đổi mới thi pháp
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận