Khi bàn về tiêu chí thơ, không ít người vẫn bảo: chỉ cần hay, không cần phân biệt cũ hay mới. Nhưng thế nào là hay? Thế nào là mới? Thơ có thể mới mà không hay nhưng thơ hay có thể nào không mới...
Khi bàn về tiêu chí thơ, không ít người vẫn bảo: chỉ cần hay, không cần phân biệt cũ hay mới. Nhưng thế nào là hay? Thế nào là mới? Thơ có thể mới mà không hay nhưng thơ hay có thể nào không mới?
Thật không gì mông lung cho bằng chữ Hay. Hay là một cảm nhận chủ quan, thuộc phạm trù thưởng thức của từng cá nhân. Người viết bài này đã từng có những cuộc tranh cãi nảy lửa, thậm chí đến mất mặn mất nhạt, với những bạn thơ thân thiết hẳn hoi, về một hai thứ thơ mới xuất hiện ở ta. Chuyện ấy là tất nhiên. Nhưng cái hay chung cho toàn xã hội tất phải có một mẫu số chung. Mẫu số chung ấy, không ít người căn cứ vào sự tán thưởng của số đông. Một căn cứ dĩ nhiên khó lòng bác bỏ. Nhưng đồng thời, thực tế bao giờ cũng chứng minh điều ngược lại: Không ít tác phẩm mà số đông hôm nay vẫn cho là hay chỉ vài năm sau là bị quên lãng do nhanh chóng bộc lộ sự lỗi thời, trong khi các tác phẩm đánh dấu bước ngoặt lịch sử văn nghệ chỉ hay đối với một số rất ít người nhạy bén trước sự thay đổi, còn số đông chỉ thấy được chúng là hay sau đó một thời gian, dài hay ngắn là do hoàn cảnh lịch sử. Cho nên có thể nói: sự thừa nhận của xã hội đối với các tác phẩm mang tính đột phá, tiên phong diễn ra nhanh hay chậm cũng là một chỉ số báo hiệu tốc độ phát triển của xã hội ấy.
Tính đa cảm, tính kể chuyện, tính du dương, tính dễ hiểu, chẳng hạn, cho đến nay vẫn chưa thôi ngự trị thi đàn chính thức Việt . Có người bạn thơ của tôi “bình” rằng: “Trong lúc tính trí tuệ đang ngự trị thi đàn Âu Mỹ thì ta cứ đa cảm nó mới bản sắc chứ!”. Thực ra, cái đa cảm trong thơ Việt chỉ bắt đầu lên ngôi với “thơ mới” thập kỷ 1930 mà thôi, trước đó thì thơ các cụ đồ nho duy lý lắm chứ. Và đâu phải độc quyền của thơ Việt , nó chẳng qua là lây nhiễm cái giọng sướt mướt của mấy anh lãng mạn Pháp thế kỷ XIX hay sao ấy chứ. Tính kể chuyện thì có lẽ bắt đầu mạnh từ cái thuở đánh Pháp dân ta mê “tấu”. Duy có tính du dương thì lâu đời thật, kể từ khi thơ gắn với, lẫn với ca. Mà cái vụ thơ-ca này thì mấy anh “bard” (thi sĩ hay hát bài hát cổ) thời Trung đại châu Âu thạo lắm.
Đời sống đổi mới thì muốn hay không thơ cũng Đổi mới. Ngay trong chiến tranh chống Mỹ, khi yêu cầu đổi mới về nghệ thuật chưa phải là ưu tiên, thì Chế Lan Viên cũng đã mới với lối thơ chính luận, hùng biện, Phạm Tiến Duật đã mới với giọng thơ thanh niên xung phong và lính Trường Sơn. Song bây giờ đến lúc phải sòng phẳng ghi nhận những nỗ lực âm thầm của các anh: Văn Cao, Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt bắt đầu ngay từ những năm 1950-1960, để đưa thơ thoát khỏi vòng tròn khép kín của chủ nghĩa lãng mạn nối dài hoặc tả thực đơn giản suốt mấy chục năm, những nỗ lực ấy mãi đến sau đổi mới (cuối thập kỷ 1980 và đầu thập kỷ 1990) mới được công bố, và đã có tác động đáng kể đối với thi đàn, chí ít là làm người ta, dù phản đối hay nghi ngờ, cũng phải nghĩ lại về những nguyên lý của thơ tưởng rằng bất biến. Tôi cho rằng đóng góp của các anh ấy là ở hai vấn đề: một là đưa thơ lặn xuống một cấp độ sâu của ý thức-đời sống tiềm thức; hai là quan niệm “chữ” không đơn giản là phương tiện để diễn nghĩa, để biểu đạt nội dung mà chính “chữ” là nội dung. Cho đến nay, chuyện “tiềm thức, vô thức” đã hầu như được “chấp nhận” và thậm chí còn có khi được vận dụng theo “mốt” hơn là thực chất; còn tư duy về “chữ” như thế (không lạ gì với những ai đã hiểu “chủ nghĩa hình thức Nga”, đã biết ngôn ngữ học hiện đại, đã quen xem tranh trừu tượng và thơ hậu hiện đại…) thì với số đông vẫn chưa “vỡ”. Điều đó xét cho cùng cũng không có gì lạ khi số đông người đọc vẫn mong tìm trong tác phẩm hình bóng của đời sống hơn là khoái cảm phát hiện những hệ thống tín hiệu mới. Dẫu sao, đóng góp đáng ghi nhận của họ có lẽ là ở chỗ đã nêu được tấm gương của những người dám phiêu lưu, dám chịu sự ghẻ lạnh để cắm cúi đi con đường rất riêng của thơ mình. Đó là điều kiện đầu tiên để có thể có cái gì mới cho Thơ.
Nhiều người nói từ khi có “Đổi mới” thì Thơ đổi mới không thành công bằng Văn xuôi. Có lẽ nên thấy: những bức xúc về xã hội bung ra lúc đầu rất thích hợp cho tiểu thuyết, truyện ngắn tung hoành. Sự đổi mới trong Thơ không thể có hiệu quả xã hội mạnh bằng. Vả chăng, sự đổi mới thực sự mạnh mẽ của Thơ phải đợi một thế hệ mới với những nguyên lý triết-mỹ học mới thấm nhuần trong đời sống.
Những tín hiệu của một thế hệ như thế đã nổi lên từ cuối thế kỷ XX và đến giữa thập kỷ 2000 này thì đã hình thành khá rõ như là một lực lượng của “thơ mới thế kỷ XXI”. Họ là những người làm thơ quen được gọi là thế hệ 7X, 8X, chủ yếu là những người sinh sau chiến tranh, và lớn lên trong thời kỳ đổi mới. Do đặc điểm của thời kỳ này là “đổi mới” về kinh tế là chủ yếu, của văn hóa và giáo dục, nhất là giáo dục thì hầu như rất dè dặt và lúng túng, nên sự đổi mới tư duy thơ ở lớp trẻ cũng chỉ ở từng khía cạnh, từng mảng, một chút về nội dung, một chút về thi pháp, và bản năng mạnh hơn nhiều so với ý thức. Song ta đang chứng kiến sự thay đổi mạnh mẽ trong thi pháp và quan niệm thơ, có khi đến mức cực đoan, ở một số nhà thơ trẻ thành phố Hồ Chí Minh. Chính ở chỗ này sự phán xét giữa “cái mới” và “cái hay” rất khó thỏa đáng. Bị số đông phản đối, song được một số người đánh giá là một cuộc bứt phá. Chúng ta còn phải chờ xem trong tương lai, họ có một vị trí tích cực trong một cuộc “cách mạng thơ” tiềm ẩn hay không?
Nhà thơ HOÀNG HƯNG
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận