QĐND - Người xưa thường nói: “Trung ngôn nghịch nhĩ”! Nói thẳng, nói thật thì khó nghe! Câu nói ấy phản ánh một sự thật phổ biến; nhưng suy nghĩ cho sâu, còn bao hàm ý phê phán và một lời cảm thán. Bây giờ, tôi lại muốn nói: “Trung ngôn thuận nhĩ”! Nói thẳng, nói thật thì dễ nghe! Đấy phải chăng là một yêu cầu bức thiết của đời sống xã hội đương đại, của công cuộc đổi mới đất nước, hội nhập quốc t
QĐND - Người xưa thường nói: “Trung ngôn nghịch nhĩ”! Nói thẳng, nói thật thì khó nghe! Câu nói ấy phản ánh một sự thật phổ biến; nhưng suy nghĩ cho sâu, còn bao hàm ý phê phán và một lời cảm thán. Bây giờ, tôi lại muốn nói: “Trung ngôn thuận nhĩ”! Nói thẳng, nói thật thì dễ nghe! Đấy phải chăng là một yêu cầu bức thiết của đời sống xã hội đương đại, của công cuộc đổi mới đất nước, hội nhập quốc tế và còn của cả mai sau, nhưng cũng là một điều mong ước!
Ngày xưa, nhất là ở những triều đại suy thoái, nhiều vị vua chúa chỉ thích nghe những lời xiểm nịnh, tâng bốc, những mưu ma chước quỷ được che đậy bằng những lời nói ngọt ngào của bọn lộng thần. Càng nghe chúng, thì triều chính càng lục đục, đất nước càng lạc hậu, dân tình càng khốn khổ. Những bậc trung thần, nghĩa sĩ lo nước, thương dân, muốn bảo vệ nhà vua và chế độ, mong muốn đất nước hưng thịnh, đã dũng cảm can gián vua chúa, bộc trực bày tỏ điều hơn lẽ thiệt, với tấm lòng trong sáng, vô tư. Nhưng, khốn thay, “ếch chết tại miệng”, “trung ngôn nghịch nhĩ”, những lời tâm huyết của họ đều bị vua chúa bỏ ngoài tai. Lời nói của các bậc hiền nhân quân tử lại bị bọn gian thần gièm pha, khép vào tội “khi quân” (coi thường nhà vua). Số phận những người trung ngôn thường là bi kịch. Điển hình về những bi kịch “trung ngôn”: Ở Trung Quốc, có ông quan trung nghĩa đồng thời là nhà thơ nổi tiếng Khuất Nguyên (340-278 TCN), nước Sở. Là người đức lớn tài cao, ông bị bọn gian nịnh ghen tị, gièm pha, nên bị vua Sở giáng chức, rồi bị đi đày, đến nỗi ông phải gieo mình xuống sông Mịch La tự vẫn, để lại khúc “Ly tao” bi tráng. Thời phong kiến ở nước ta, đời Trần, có Chu Văn An (tức Chu An, 1292-1370), với chức Tư nghiệp Quốc Tử Giám (đứng đầu các vị quan dạy học ở Quốc Tử Giám và dạy học cho Thái tử). Thấy triều chính đổ nát, ông dâng “Thất trảm sớ”, nhưng vua Trần Dụ Tông không nghe theo, ông bèn cáo quan về quê mở trường dạy học. Đời Lê Thái Tông, có quan Nhập nội hành khiển-Nguyễn Trãi (1380-1442), với công trạng lớn lao giúp Lê Thái Tổ dẹp giặc Minh, vì “trung ngôn” mà bị gian thần ganh ghét, tìm bao mưu kế hãm hại, đến mức bị tru di tam tộc. Đến đời Lê-Mạc, có Trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), chức Tả Thị lang, Đông Các học sĩ, dâng sớ hạch tội 18 lộng thần, nhưng vua Mạc Đăng Doanh không nghe, nên ông đã trả ấn từ quan, về quê dạy học!
Ngoài cung vua phủ chúa, thì ở cấp xã, huyện, lộ (tỉnh) và trong cuộc sống hằng ngày, những người có lương tri, hay nói thật, nói thẳng cũng bị quan lại khép tội, hoặc bị trù dập, cô lập. Đáng buồn là ngay trong nhân dân, những người cùng cảnh, nhưng không nhận thức được lẽ phải và sợ cường quyền, cũng xa lánh những người trung thực, vì sợ bị... liên lụy. Còn bọn xiểm nịnh, gian manh thì thắng thế, dương dương tự đắc!
Đó là chuyện cũ nhắc lại.
Ngày nay, đất nước ta trong công cuộc kiến thiết và hội nhập quốc tế, với thế giới quan khoa học là Chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, lại được thực tế cách mạng và lý luận của Đảng ta bổ sung, phát triển, cho nên đời sống xã hội đã từng bước đổi mới, nếp sống, nếp nghĩ của đại bộ phận nhân dân cũng được nâng lên. Với tư tưởng: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”, “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”, Đảng và Nhà nước ta càng nêu cao chủ trương “Để dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI đã có chỉ thị và Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhắc nhở việc mở rộng dân chủ trong Đảng và tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân, nhất là các trí thức tham gia hiến kế, phản biện các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhằm làm cho đất nước phát triển bền vững và thịnh vượng. Do đó, đã thu thập được nhiều ý kiến đóng góp quý báu, những lời nói thẳng, nói thật của những người tiên tiến trong nhân dân. Từ các văn kiện trình các Đại hội Đảng, các chủ trương của Quốc hội, vấn đề sửa đổi Hiến pháp, xây dựng và sửa đổi pháp luật, chương trình nghị sự của HĐND các cấp..., tất cả đều được phổ biến công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, để nhân dân góp ý. Nhiều vụ tham nhũng được nhân dân phanh phui; nhiều cái xấu, cái ác được nhân dân phê phán. Tư duy con người có lương tri thời nay theo đuổi và đề cao chân lý hơn là sự giả dối chỉ để được lòng một số người có chức, có quyền.
Thực tế cho thấy: Những người “trung ngôn”-theo đúng nghĩa của từ này, tức là những người nói thẳng, nói thật, nói đúng, cho dù có mất lòng ai đi chăng nữa, nhưng có lợi cho Đảng, Nhà nước và nhân dân và không hề vì lợi ích cá nhân-bao giờ cũng là những người có bản lĩnh, có tài năng về những mặt nào đó và lòng cao thượng. Họ thường có trí tuệ đáng nể, có đức độ, có tâm hồn đẹp. Đáng quý thay, họ có sâu đậm một phẩm chất cao đẹp: “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Cái phẩm chất đó, không phải ai cũng có được!
Người xưa mong ước gặp được đấng minh quân, hoặc những vị quan thanh liêm, chính trực sẽ mang hết sức mình để phụng sự quốc gia. Ngày nay, chúng ta mong ước có nhiều nhà lãnh đạo thật sự có tài đức, biết nghe lời nói phải, mà không sợ chối tai.. Biết lắng nghe “trung ngôn”, rồi chọn lựa và vận dụng ngay trong công tác-đó là phẩm chất tiêu biểu và rất đáng quý, rất cần phải có của những người lãnh đạo kiểu mới, xứng đáng là những người lãnh đạo. Có được điều ấy, đó là một sự đổi mới thật sự và nó báo hiệu những bước tiến kỳ diệu của dân tộc trong tương lai. Biết nói thẳng, nói thật, nói đúng đắn, sâu sắc và để làm sao có được “trung ngôn thuận nhĩ”- mới là một biểu hiện rõ rệt của một xã hội tốt đẹp, có văn hóa và văn minh.
ĐÀO NGỌC ĐỆ
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận