Thứ Năm, 27/05/2010, 20:34

    Vài ghi chú nhỏ

    Không nên “giảng” cho nhau về cấu tứ với những ai đã “vào nghề” chứ không phải vừa “bước vào”. Quan sát nhiều sáng tác cổ kim chúng ta có thể bàn thêm về vấn đề ta tạm gọi là những cái “bẫy” của cấu tứ...

    Đến một ngưỡng kỹ thuật nhất định người làm thơ nào cũng biết cấu tứ. Không nên “giảng” cho nhau về cấu tứ với những ai đã “vào nghề” chứ không phải vừa “bước vào”. Quan sát nhiều sáng tác cổ kim chúng ta có thể bàn thêm về vấn đề ta tạm gọi là những cái “bẫy” của cấu tứ.

    Một bài thơ có cấu tứ thường chặt chẽ, “lọt” ngay vào người thưởng thức. Nắm ngay được tứ quán xuyến, ta thường gọi là chủ đề thơ. Những câu chữ cuối cùng khuýp lại người đọc lập tức được thỏa mãn. Người tác giả đã đoạt một điểm ưu: Thật sáng rõ lịch trình du lịch. Điểm khởi đầu và điểm đến. Ở những bài thơ trung bình và trung bình khá cùng với ưu điểm kia đã lộ rõ một nhược điểm lớn của thơ: Thiếu tính gợi mở, người đọc hụt mất sự đồng hành cần phải có với tác giả, những chân trời của bài thơ, tứ thơ đã bị đóng sập. Bàn tay cấu tứ tới độ lành nghề đã đưa bài thơ đi trót lọt, chính bàn tay ấy cũng nắm áo, kéo bài thơ lại. Mà thơ như nhà thơ lão thành Rits-sốt (Hy Lạp) nói, tôi nhớ không nguyên văn: Bài thơ hay khép lại thế giới thực, mở cho ta sang một thế giới khác.

    No image available

    Một tiết mục  trong Ngày thơ Việt Nam 2010. Ảnh: internet

    Lập tức một phản bác: Thiếu gì những bài thơ cấu tứ rõ ràng, chủ đề chẳng có gì “âm u”, tư tưởng nắm ngay được, vẫn cứ là kiệt tác đấy chứ! Thí dụ: Bài thơ lúc lên đài U Châu của Trần Tử Ngang, đời Đường ( 661-701): Trước không thấy người xưa/Sau không thấy kẻ sắp đến/Nghĩ trời đất mênh mang không cùng/Một mình bùi ngùi nhỏ nước mắt.

    Hay trong bài Thơ mùa nước lũ (Chế Lan Viên 1920-1989): Nhớ xuôi trông mãi mảnh tin nhà/Nay được phong thư nước suối nhòa/Chẳng dám giận nhiều con thác lũ/Thương tình chú ngựa khổ đường xa.

    Những tứ thơ thật rõ sáng, nhưng ở bài trên tứ rất lớn, sức thâu tóm của từ ấy thật vô cùng, như thể bàn tay Phật thu vào cả Thái Sơn, vũ trụ. Bản thân cái tứ ấy có sức gọi mở tới mười ba thế kỷ chưa dứt. Ở bài sau tứ thơ thật cứng cỏi cốt lõi nhân văn, tầm thơ mở thoát khỏi “chỉ biết có mình” (dù mình ở đây chính đáng), đẩy xa ý và tình về phía ngân nga diệu vợi. Vậy rút ra: Cấu tứ rõ, tứ thơ sáng, nhưng bản thân tứ ấy phải có lực. Hai bài tứ tuyệt có ngần ấy chữ nhanh chóng chấm dứt, nhưng sức đi, sức gồng gánh của chúng, tất nhiên không ở mức độ ngang nhau, những “công” mà chúng sản sinh ra không ở mức trung bình khá được!

    Chưa kể nghệ thuật kết cấu tài hoa của cấu tứ, tay nghề già dặn “thôi, xao”, ở bài trên cỡ Mikenlănggiơ, ở bài dưới cũng của cỡ hậu sinh tài hoa loại một. Những bài thơ trung bình tứ thường mỏng, yếu, do đó càng trông nhờ vào tài dựng khung (cấu tứ) và đan cài lóng một, lóng hai… bằng những nan câu chữ vội vàng.

    Bởi tứ mới là tiền đề, mới là một trong số những đảm bảo, một khả năng, một hứa hẹn cho bài thơ ra đời. Vụt nảy ra cái tứ, người viết thường nghĩ mình đã “ăn chắc” bài thơ. Có những bài thơ đã vội ra đời trong tâm lý sáng tác nóng ăn như vậy. Có thể tạm đáp ứng ngay trong một cuộc họp, một buổi trình diễn thơ ào ào ngoài trời. Tiếp nhận dễ, nhanh bằng thính quan, qua giọng tác giả hăng bốc cùng động tác gợi cảm, có những kiểu bài thơ như vậy đã được hoan hô. Nhưng nghe chúng trong một không khí trầm tĩnh hơn, có sự thóc mách thẩm mĩ nghiêm chỉnh hơn, đặc biệt kiểm tra bằng văn bản, hiệu quả của chúng sẽ sụt hẳn. Bởi:

    - Tác giả đã dùng các kỹ thuật phân đoạn, dựng hình, các phép tu từ… nhằm minh diễn một cái tứ có sẵn, một cái từ trần sì. Khúc chiết quá, chặt chẽ quá, khôn ngoan quá. Duy chắc chắn bất ngờ nghệ thuật thì không thể có! (Mặc dù có tác giả già tay nghề đã gài bẫy độc giả bằng kỹ xảo khiến người ta lầm tưởng như có nổ ra những bất ngờ!). Bài thơ được điều khiển bằng lý trí, bằng những kinh nghiệm kỹ năng thơ ca, chứ không phải bằng toàn bộ hoạt động sáng tạo thơ ca.

    - Nhằm vội vàng đoạt lấy cái tứ, nhanh chóng đóng chốt, khóa chặt, “không cho tứ nó thoát”, tác giả lấn lướt ý, lời. Cuộc tập hợp, dàn quân từ ngữ, vì cây đã có tứ, thành ra không được kỹ, không cần kỹ. “Ăn nhau cái tứ rồi, chữ nghĩa mo phú!”, thưa không phải thế. Muốn tứ lớn bằng trời, sâu bằng bể, mà từ ngữ tầm thường, thì vẫn cứ là thơ bằng óc, thơ dịch thuật, cốt lấy ý, chưa phải thơ. Có hiện tượng một vài dịch giả giỏi ngoại ngữ dịch nhiều, thấy làm thơ cũng dễ thôi, và họ đã làm theo kiểu dịch ý, có điều ý của họ nhanh và nhiều quá. Làm thơ đâu có ngon như vậy! Tôi tôn sùng thơ, tự thấy còn phải phấn đấu nhiều nhiều nữa về nghệ thuật, song cũng không thuộc trường phái duy mĩ thuần túy. Và tôi không thể tán thành những người lười lĩnh ngôn ngữ, những cũ mòn chữ nghĩa được biện minh “nội dung là chính, tứ thơ là chính”, thậm chí còn lái vơ vào “tư tưởng là chính”!

    Người bạn bảo: Mình có cái tứ này hay lắm, thú lắm. Tôi: Xin ông cho xem bài thơ. Cái tứ, chưa phải bài thơ. Thưa, đừng cậy mình có tứ. Mà lại cứ luôn luôn toáng lên lắm tứ hay, tứ lạ như thế, ta càng nên từ từ…

    Mã Pí Lèng

    hoangha

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...