Viết về mùa thu và họa sĩ, Trần Đăng Huấn đã đem đến cái trong trẻo tràn nhựa sống. Nghệ thuật và thiên nhiên, với cuộc đời kết thành và sinh ra một sự sống mới, một đời sống mới, một đời sống của sự hiến dâng...
Họa sĩ-thu tìm người góc bể/ Màu say lúy túy chân trời/ Có chạm thịt da mùa thu mát/ Xao xuyến ngày qua tưởng cầm tay.
(…)/ Phố thương se lạnh/ Nắng òa…
(Mùa thu họa sĩ)
Đó là thơ Trần Đăng Huấn, một tác giả thơ xuất hiện với một quãng thời gian chưa đầy 2 năm.
Viết về mùa thu và họa sĩ, Trần Đăng Huấn đã đem đến cái trong trẻo tràn nhựa sống. Nghệ thuật và thiên nhiên, với cuộc đời kết thành và sinh ra một sự sống mới, một đời sống mới, một đời sống của sự hiến dâng.
Cùng cảm xúc về mùa thu, ở những trạng huống khác biệt khác, Trần Đăng Huấn vẫn tạo dựng được những ấn tượng mạnh và sâu đằm.
“Về quê cũ gặp người tay liềm hái/ Thu vàng mơ mà lưng áo ướt đầm.
(…)/ Thu đến tự trong lòng chính quả/ Lá sương rơi lắc thắc dưới trăng vàng”
(Ngày thu-trở lại miền quê)
“Gió ào ào bứt lá vòm cây/ Tôi chắp lại làm sao dáng em chiều gió vỡ”
(Gió vỡ)
Mùa thu đẹp đến lộng lẫy, thiên nhiên và hồn người dựng lên xao xác và thần động. Đọc những câu thơ trên, tôi thực sự khó ghìm lòng, tôi chợt nhận ra rằng, thơ ca khi khơi đúng mạch nguồn nó tựa như mạch nước trào vọt trong lòng và quyến rũ.
Bài thơ “Gánh nước lộc đầu năm” là một bài thơ có sự phát triển về cấu tứ. Tục gánh nước lộc đầu năm, là một phong tục thiêng liêng của người Việt được truyền tiếp từ hàng nghìn năm từ đời này sang đời khác. Đến những năm đầu của thế kỷ XXI, do sự tiến bộ của nền văn minh công nghiệp có thể nhiều quần thể dân cư không còn thực hiện cái phong tục này, nhưng nó như một thứ “gen” di truyền và đang ở trạng thái “lặn” trong những quần thể nhân văn, tại các khu đô thị. Bài thơ “Gánh nước lộc đầu năm” như cơn mưa lạ giữa mùa hanh khô, như một sự bảo tồn một đời sống tinh thần truyền thống.
“Gánh nước lộc mừng tuổi mới/ Đầu năm xuân đến như thủy hồ/ Ngọt như nước, mát lành như nước/ Vững bền cuồn cuộn sông quê”.
(Gánh nước lộc đầu năm)
Mọi người đều biết, trái đất ba phần tư là nước. Nước chính là sự sống. Tôi còn nhớ nhà thơ Nguyễn Quang Thiều có kể rằng, tại một thành phố ở châu Âu, có dựng một bức tượng khổng lồ về một người đang chụm hai tay vớt nước đưa lên miệng uống, anh nói rằng ai đi qua đó nhìn bức tượng khổng lồ này, cũng thấy mình đang khát-Tôi nghe anh kể lại, tôi cũng thấy khát. Những cơn khát của loài người triền miên, chỉ có nước và nước là nguồn sinh lực trực tiếp nhất giúp cho con người và sự sống băng qua cái nóng khát của vũ trụ.
Thơ Trần Đăng Huấn đã xuất hiện nhiều hình ảnh thơ độc đáo và mang tính phát hiện khi anh viết về biển, về tiếng ve mùa hè và về người đi trong mùa lá đổ…
“Đêm xuống biển như tràn vào phố”/ “Mùa lá đổ/ Người qua như mưa nghiêng nghiêng”/ “Như vòng đời/ Thanh thoát và ướt đẫm mồ hôi”.
Những câu thơ có tính phát hiện của Trần Đăng Huấn đã tạo nên một không khí đặc biệt toát ra từ ngôn ngữ và hình ảnh thi ca mang tính ấn tượng vào tạo hình mạnh mẽ.
Bài thơ “Vân Nam” của Trần Đăng Huấn là một bài thơ ngắn, nhưng có khí lực của trường ca, chính cái khí lực này đã tạo dựng những hình ảnh thơ có sức vạm vỡ thuyết phục. Tôi nghĩ, nếu Trần Đăng Huấn phát triển thơ của anh theo nguồn mạch này, thơ anh sẽ được đẩy xa hơn nữa.
Chẳng hạn như những câu thơ này của bài thơ “Vân Nam”.
“Mây trắng tọa thiền đỉnh núi/ Rừng đá tương tư mặt người/ Em gái ngược đường tôi gặp/ Như bước ra từ đá. /Mát lành như mây Vân Nam sớm nay/ (…)/ Vân Nam mây phương Nam/ Mây phương Nam hòa vào đá núi/ Mơ ngày gặp lại./ Như đá xưa mơ hóa kiếp người.
Tôi thật sự trận trọng những cảm xúc thi ca trên cái nền của sự đôn hậu, chân thành-Nó chính là một nguồn lực vô cùng vô tận cung cấp sinh khí cho cảm xúc thi ca-Và bài thơ khi ấy được vút lên nếu được chắp cánh của trí tưởng tượng phong phú với nguồn hứng khởi dào dạt của cảm xúc. Thi ca không phải là một phép lạ, thực ra nó đang tàng ẩn đâu đó khắp mọi nơi, mọi chốn trong đời sống nhân gian.
DƯƠNG KIỀU MINH
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận