Đứng về một mặt, văn học chính là ký ức. Ký ức về thế giới, về loài người, về một cộng đồng lớn là dân tộc, nhỏ hơn nữa là một vùng đất, một làng, một thành phố... Đọc văn học, chúng ta có một chuỗi ký ức về nhiều số phận, về đời một con người.
Đứng về một mặt, văn học chính là ký ức. Ký ức về thế giới, về loài người, về một cộng đồng lớn là dân tộc, nhỏ hơn nữa là một vùng đất, một làng, một thành phố... Đọc văn học, chúng ta có một chuỗi ký ức về nhiều số phận, về đời một con người. Ở tản văn “Trầu quế”, nhà thơ Nguyễn Thị Ngọc Hà kể với bạn đọc ký ức về người mẹ vô cùng thương yêu gắn với tập tục chăm nuôi cây trầu quế.
Rõ ràng nhờ tác phẩm tản văn nhỏ xinh này chúng ta được ngược về ký ức dân tộc, biết được tập tục chăm bẵm, yêu quý đến mức trân trọng nâng niu giống loài trầu quế: “Giàn trầu ấy có từ ngày mẹ tôi về làm dâu, nghe nói bố tôi đã lên tận Chèm xin về ươm cho mẹ. Mẹ tôi chăm sóc nó kỹ lắm, không cho tưới nước gạo chua, nước rửa bát, nước điếu hay bất cứ nước bẩn nào khác, và dứt khoát không cho tay người lạ hái. Nếu đêm nào nhỡ hái trầu ăn, khi bảo tôi ra vườn hái bao giờ bà cũng dặn: “Con nhớ đánh thức nó rồi hãy hái nhé”. Vào những đêm sương giáng, mẹ tôi gỡ cả màn đang nằm che cho nó. Cuối năm đông tàn, khí hậu hanh khô giá buốt, trầu ở đâu cũng lụi, chỉ có giàn trầu nhà tôi mẹ che chắn tốt nên không những đủ trầu ăn mà còn biếu bà con quanh xóm mỗi nhà đôi liền ăn Tết”.
Tiếp đó chúng ta được xem bà mẹ thuở trẻ ăn vận ra sao đội sảo trần lên dâng lễ ở đình làng. Hàng loạt chi tiết thú vị làm thức dậy trong trái tim chúng ta những xúc cảm về nguồn cội Việt. Đó chính là nhờ điều chúng ta đang nói: Văn chương là ký ức. Ký ức thường buồn bởi những gì tốt đẹp đã mất. Ký ức càng thấm thía hơn, nỗi buồn nhân gấp đôi, gấp bội khi cảnh đời trong ký ức có xảy ra đổ vỡ, thương đau. Số phận người mẹ trong “Trầu quế” đã rơi vào cảnh huống ấy.
“Bố tôi mất từ ngày chị em tôi còn bé, mẹ đứng lại lặng lẽ nuôi dạy chúng tôi, cho chúng tôi ăn học nên người, rồi lại lặng lẽ tiễn em trai tôi vào tiền tuyến. Những năm giặc Mỹ đánh phá ác liệt miền Bắc, mẹ tôi nhất định không đi sơ tán, chỉ vì không muốn xa bàn thờ bố và không thể bỏ giàn trầu không ai chăm sóc. Chiến tranh đã qua từ lâu, nhưng những năm tháng cùng cực ấy còn theo gia đình tôi mãi, nó bào mòn thân thể mẹ tôi, từng nét xưa chỉ còn phảng phất trên gương mặt xanh xao võ vàng. Sau này tôi tự dằn vặt mình mãi vì đã không cố ngăn mẹ ra ngồi bán trầu cau ở đầu làng”.
Cảnh tiếp tác giả hồi ức mình giả đò hỏi mua trầu của mẹ, tuy có phần bị “văn chương hóa”, nhưng cốt lõi của tấm lòng xót xa thương mẹ rất chân thật nên vẫn là một cảnh cảm động. Ta hoàn toàn đồng cảm với tác giả khi chị viết: “Có lần tôi đứng trước mẹt hàng của mẹ mình, nén hơi thở thật sâu, giữ cho không bật khóc, nhìn hai bàn tay rõ từng đường gân nổi, gân chìm đang mê mải lần chọn những lá trầu mặt...”.
Cuộc sống hiện đại với trăm ngàn gấp gáp, hối thúc. Mặc cho ai đó cố tình lảng tránh, rời xa văn học. Bên cạnh những đề tài nóng hổi, nóng bỏng của cuộc sống đang diễn ra, chúng ta vẫn tìm trong ký ức văn học những suối nguồn của yêu thương khơi dậy lòng biết ơn với những ai từng đau khổ, dành lại những gì tốt lành, may mắn cho các thế hệ sau. Ở những dòng kết tản văn, Nguyễn Thị Ngọc Hà muốn thầm thì nói lên lòng biết ơn đó trước hết của chính mình.
“Dây trầu quế tôi trồng giờ đây đã trổ rất nhiều lá, nhưng mẹ đã về một nơi xa lắm... Mỗi đêm nhớ mẹ tôi thường ra đứng bên gốc trầu rất lâu, sương khuya trong vắt từ những nõn trầu rớt xuống (...) Tôi úp mặt xuống hai lòng bàn tay hứng đầy những giọt sương lạnh. Không biết có phải mẹ tôi đã hóa thân vào cây Trầu quế tôi trồng hay không, mà từng giọt sương ấy như có vị thơm, cay cay, mằn mặn, thấm thía tận cùng ký ức về mẹ...”.
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận