QĐND - Trong dịp tổng kết 15 năm (1998-2013) thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch đã có một bản phụ lục thống kê số liệu thuộc các lĩnh vực của văn hóa. Bên cạnh những số liệu gia tăng đáng mừng, thì cũng có những con số “lên, xuống” rất đáng suy ngẫm...
QĐND - Trong dịp tổng kết 15 năm (1998-2013) thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch đã có một bản phụ lục thống kê số liệu thuộc các lĩnh vực của văn hóa. Bên cạnh những số liệu gia tăng đáng mừng, thì cũng có những con số “lên, xuống” rất đáng suy ngẫm.
Nhiều số liệu “biết nói”
Sau khi ban hành Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII), 15 năm qua, Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã ban hành 115 văn bản chỉ thị, luật, nghị quyết, nghị định, quyết định và thông tư liên quan đến văn hóa.
Nếu như trước năm 1998, Việt Nam chỉ có 2 di sản được UNESCO công nhận thì đến năm 2012, con số này đã tăng lên 17 di sản văn hóa và di sản thiên nhiên thế giới, di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại và di sản văn hóa phi vật thể được bảo vệ khẩn cấp (tăng gấp 8,5 lần). Số lượng di tích cấp quốc gia cũng tăng từ 2.196 lên 3.174 di tích (tăng 69%) và đã có 34 di tích được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng di tích đặc biệt của quốc gia; 33 di sản văn hóa phi vật thể được đưa vào danh mục “Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia”. Số lượng bảo tàng tăng từ 115 lên 137 bảo tàng (tăng 8,4%) và đã có 17 bảo tàng tư nhân ra đời phục vụ công chúng.
Về số lượng thư viện, năm 1998 chỉ có 591 thư viện từ cấp xã đến Trung ương, thì đến năm 2012, cả nước đã có 18.326 thư viện, phòng đọc (tăng gấp hơn 31 lần); số đầu sách các loại tăng từ 11.581.789 cuốn lên 31.477.544 cuốn (gấp hơn 2,7 lần). Bình quân số đầu báo/người dân tăng từ 7,07 lên 11,5 tờ/người.
![]() |
| Một tiết mục tại Liên hoan nghệ thuật quần chúng Đoàn Nghi lễ Quân đội (Bộ Tổng tham mưu). |
Hưởng ứng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, số làng đạt danh hiệu “Làng văn hóa” tăng từ 17.651 lên 58.284 làng (gấp 3,3 lần) và số đơn vị (cơ quan, trường học) đạt chuẩn văn hóa tăng từ 8.707 lên 37.971 đơn vị (gấp hơn 4,3 lần).
Thông qua những con số trên, có thể khẳng định rằng, Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) ra đời là một “cú huých” mới để tạo đòn bẩy thúc đẩy sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa ở nước ta, bảo đảm cho văn hóa ngày càng trở thành nền tảng tinh thần của xã hội và “sức mạnh nội sinh của phát triển”. Việc Đảng, Nhà nước ban hành nhiều chủ trương, chính sách, luật pháp về văn hóa đã tạo điều kiện hành lang pháp lý thuận lợi cho văn hóa phát triển đúng hướng, lành mạnh. Số lượng di sản thế giới, di tích quốc gia, bảo tàng, thư viện, đầu sách báo không ngừng tăng lên chứng tỏ diện mạo văn hóa của đất nước không ngừng khởi sắc và điều kiện đáp ứng các thiết chế văn hóa cho người dân ngày càng phong phú, đa dạng hơn. Số lượng làng văn hóa, đơn vị văn hóa ngày càng nhiều là minh chứng cho phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” bước đầu có hiệu quả.
Trăn trở từ những con số
Bên cạnh những số liệu gia tăng đó, có những số liệu giảm sút. Trước năm 1998 có 345 đội chiếu bóng lưu động thì đến năm 2012 giảm còn 315 đội (“teo” 30 đội). Rạp chiếu phim công cộng từ 118 xuống còn 72 (giảm 46). Phòng chiếu phim từ 118 phòng xuống còn 104 phòng (giảm 14 phòng). Số buổi chiếu phim phục vụ nhân dân giảm từ 85.500 buổi xuống còn 74.387 buổi (giảm 11.113 buổi).
Việc các đội chiếu bóng lưu động, các rạp, phòng chiếu phim, số lượng buổi chiếu phim giảm sút nặng nề đã phần nào phản ánh nhu cầu thưởng thức phim trên màn ảnh rộng của người dân không sôi động như trước, nhưng đồng thời cũng “phác họa” bức tranh điện ảnh Việt Nam gam tối nhiều hơn gam sáng, nếu không muốn nói là bị thụt lùi, lạc hậu so với thế giới. Điện ảnh Việt Nam nói chung, hoạt động chiếu phim nói riêng mà không được đầu tư tương xứng, duy trì hiệu quả thì vô hình trung, chúng ta đang tạo ra một rào cản khiến người dân không có cơ hội được tiếp cận một loại hình nghệ thuật giải trí lành mạnh, có tính giáo dục cao.
Mấy năm trở lại đây, có 253 làng (thôn, ấp, bản) bị thu hồi danh hiệu văn hóa. Đây như một tiếng chuông cảnh báo về “bệnh thành tích” đang có nguy cơ xâm lấn, gặm nhấm chính phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” mà nếu không ngăn chặn kịp thời, dứt điểm, thì phong trào này dễ rơi vào hình thức, thiếu sức sống.
Con số đáng báo động nhất thuộc lĩnh vực gia đình, đó là tình trạng bạo lực gia đình bị xử lý hành chính và hình sự những năm gần đây liên tục gia tăng. Nếu năm 2009, số vụ bạo lực gia đình bị xử lý hành chính có 1.322 vụ thì năm 2012 tăng lên 1.868 vụ (gấp hơn 1,4 lần) và số vụ bạo lực gia đình bị xử lý hình sự trong cùng thời điểm này tăng từ 130 lên 336 vụ (gấp hơn 2,5 lần). Gia đình là vấn đề lớn của toàn xã hội, nhưng để nạn bạo hành gia đình tăng lên chứng tỏ việc xác định, thực hiện các giải pháp xây dựng văn hóa gia đình của ngành văn hóa các cấp còn bất cập.
Gia đình là “cái nôi văn hóa” của mỗi đời người. Nếu cái nôi đó không được thường xuyên nuôi dưỡng, chăm chút, vun trồng thì ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành, phát triển nhân cách văn hóa của mỗi thành viên trong gia đình. Vì vậy, để ngăn ngừa tình trạng bạo lực gia đình, giảm số vụ bạo hành gia đình, đòi hỏi các cơ quan, đoàn thể, nhất là ngành văn hóa phải quan tâm chăm lo xây dựng gia đình có nếp sống văn hóa tốt đẹp, để mỗi gia đình trở thành một tế bào lành mạnh của xã hội.
Bài và ảnh: THIỆN VĂN
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận